Giảm đầu vào, cải thiện sức khỏe vườn cây
Sầu riêng là cây trồng có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư lớn. Các vấn đề như vàng lá, thối rễ, nấm bệnh hay cây suy sau thu hoạch có thể khiến chi phí chăm sóc tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh nông nghiệp hướng đến giảm phát thải, việc sử dụng vật tư hợp lý, hạn chế đầu vào hóa học và tận dụng phụ phẩm tại vườn đang được quan tâm.

Anh Phạm Đức Lợi ứng dụng giải pháp vi sinh trong chăm sóc sầu riêng, hướng đến giảm chi phí đầu vào, nâng cao sức khỏe cây trồng. Ảnh: Văn Vũ.
Tại xã Tân Lược, tỉnh Vĩnh Long, anh Phạm Đức Lợi đang áp dụng mô hình trồng sầu riêng theo hướng hữu cơ do Công ty TNHH Sinh học Châu Á triển khai.
“Với cây sầu riêng, sự ổn định là điều người trồng quan tâm nhất. Muốn bán được giá cao thì phải xuất khẩu được, mà để xuất khẩu thì phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản như hạn chế dư lượng phân, thuốc hóa học, hạn chế Cadimi. Cách trồng trước đây rất khó làm tốt những yêu cầu này. Sau khi tìm hiểu và cân nhắc, tôi quyết định thử nghiệm mô hình theo hướng vi sinh từ khi cây được 3 năm tuổi để cây ổn định dần trước khi bắt đầu làm bông, cho trái”, anh Lợi chia sẻ.
Sau năm đầu tiên cho trái, năng suất vườn chưa cao bằng một số vườn canh tác truyền thống, nhưng theo anh Lợi, cây ít suy, ít bệnh hơn nên giảm được chi phí phục hồi.
“Sau năm đầu tiên cho trái, nhìn chung năng suất tương đối, tuy không cao bằng các vườn canh tác theo cách truyền thống nhưng lợi nhuận ổn định hơn. Một phần do tôi tiết kiệm được nhiều chi phí phục hồi vườn. Trung bình mỗi cây mang trái tôi đầu tư khoảng 800.000 đồng, trong khi các vườn khác có thể hơn 1 triệu đồng”, anh Lợi cho biết.
Trong quy trình này, các chủng vi sinh như Trichoderma, Chaetomium được sử dụng để hỗ trợ quản lý nấm bệnh, thối rễ, nứt thân xì mủ. Trichoderma còn được dùng để ủ phân chuồng, tạo nguồn hữu cơ bổ sung cho đất.

Nhân viên Công ty TNHH Sinh học Châu Á hướng dẫn chị Lê Thị Mai Sương ứng dụng giải pháp vi sinh trong chăm sóc sầu riêng. Ảnh: Văn Vũ.
Tại ấp Long Thới, xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, chị Lê Thị Mai Sương áp dụng giải pháp vi sinh cho khoảng 100 cây sầu riêng trên diện tích 3 công. Sau khoảng 4 – 5 tháng, chị nhận thấy cây và bộ lá có sự thay đổi. “Trước đây cây yếu, suy, lá không tốt, bị cháy lá, ngọn cũng bị hư. Sau khi áp dụng giải pháp vi sinh thấy rất tốt, lá xanh, dày, mướt. Cây, lá đều tốt và tình trạng cháy đọt, cháy lá được hạn chế”, chị Sương chia sẻ.
Giảm chi phí, tận dụng phụ phẩm tại vườn
Bên cạnh cải thiện sức khỏe cây trồng, mô hình còn hướng đến giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tận dụng nguồn hữu cơ sẵn có. Theo Công ty TNHH Sinh học Châu Á, phương án sử dụng khoảng 70% giải pháp sinh học và 30% hóa học có chi phí chăm sóc ước tính 80 – 95 triệu đồng/ha/năm, so với khoảng 120 triệu đồng/ha/năm ở phương thức canh tác 100% hóa học.
Trong đó, chi phí phân bón ước giảm từ khoảng 30 triệu đồng xuống 20 – 25 triệu đồng/năm, chi phí thuốc bảo vệ thực vật giảm từ khoảng 45 triệu đồng xuống 30 – 35 triệu đồng/năm. Đây là số liệu ước tính, chi phí thực tế tùy thuộc điều kiện và cách chăm sóc của nhà vườn.
Theo ông Võ Văn Thắng, Phó Giám đốc Công ty TNHH Sinh học Châu Á, tăng cường giải pháp hữu cơ, vi sinh có thể góp phần giảm lượng phân bón hóa học, trong đó có urê.

Anh Phạm Đức Lợi ủ phân gà bằng chế phẩm vi sinh Trichoderma của Công ty TNHH Sinh học Châu Á để làm phân hữu cơ bón cho vườn sầu riêng, góp phần giảm chi phí đầu vào và hạn chế sử dụng phân bón hóa học. Ảnh: Văn Vũ.
“Sử dụng sản phẩm hữu cơ vi sinh chắc chắn góp phần giảm phát thải rất nhiều. Thứ nhất là hạn chế được lượng urê. Urê có thể phát sinh các loại khí gây phát thải. Thứ hai là tiết kiệm phân bón, bởi rễ phát triển mạnh và vi sinh phân giải các chất xơ trong đất. Khi bộ rễ khỏe thì lượng phân bón, cả phân bón gốc và phân bón lá cũng có thể giảm”, ông Thắng phân tích.
Một giải pháp khác là tận dụng phụ phẩm trong quá trình canh tác như lá mục, trái loại bỏ và cành tỉa để ủ bằng chế phẩm vi sinh, sau đó sử dụng trở lại cho đất. “Các phụ phẩm trong quá trình canh tác như lá mục, trái hoặc cành tỉa có thể được tận dụng, dùng EM hoặc Trichoderma để ủ. Sau khi phân hủy hoàn toàn có thể bón trở lại cho đất. Như vậy sẽ giảm lượng phân sử dụng, tiết kiệm nước tưới và tận dụng được phụ phẩm nông nghiệp”, ông Thắng cho biết.
Theo ông Thắng, vi sinh không mang lại hiệu quả tức thời và không thể thay thế hoàn toàn biện pháp hóa học. Vì vậy, nhà vườn cần ưu tiên phòng ngừa, theo dõi vườn thường xuyên và sử dụng sản phẩm đúng quy trình.
“Sản phẩm vi sinh chủ yếu giúp tăng khả năng kích kháng, tăng sự bảo vệ cây trồng. Thời gian phát huy hiệu lực phải tính từ 3 – 4 ngày trở lên. Vì vậy, nếu nông dân không lấy phòng làm chủ đạo mà vẫn có tâm lý xử lý là phải hiệu quả ngay thì sẽ khó đáp ứng yêu cầu”, ông Thắng lưu ý.

Sầu riêng sinh trưởng khỏe là một trong những yếu tố quan trọng giúp nhà vườn giảm chi phí phục hồi sau thu hoạch. Ảnh: Văn Vũ.
Vi sinh – yếu tố quan trọng trong IPHM
Từ thực tế tại các nhà vườn ở Vĩnh Long, mô hình ứng dụng vi sinh có những điểm phù hợp với định hướng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM): cải thiện sức khỏe đất và bộ rễ, tận dụng phụ phẩm, đồng thời hướng đến giảm sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả lâu dài, các giải pháp này cần được kết hợp trong quy trình quản lý vườn cây tổng thể.
IPHM (Integrated Plant Health Management) chú trọng sức khỏe cây trồng, đất và hệ sinh thái, trong đó quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một bộ phận quan trọng. Việc sử dụng vi sinh, quản lý dinh dưỡng và kiểm soát dịch hại cần được phối hợp nhằm giảm phụ thuộc vào các đầu vào hóa học.
GS.TS Phạm Văn Toản, chuyên gia cao cấp của Hội Doanh nghiệp Sản xuất và Kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) cho rằng cần duy trì hệ sinh thái, giúp cây khỏe để hạn chế nguy cơ phát sinh dịch hại.
“Với chương trình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp, trước hết phải bảo đảm được hệ sinh thái, bảo đảm cây khỏe để dịch hại giảm. Khi đó, việc áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp trong khuôn khổ quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp sẽ phát huy hiệu quả”, TS Toản cho biết.

Quản lý sức khỏe đất và bộ rễ giúp hạn chế nguy cơ phát sinh bệnh, đồng thời hướng đến giảm đầu vào hóa học trong vườn sầu riêng. Ảnh: Văn Vũ.
Đối với sầu riêng, quản lý sức khỏe đất còn gắn với việc kiểm soát các yếu tố bất lợi như kim loại nặng Cadimi. Ông Toản nhấn mạnh: “Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp thì đất phải khỏe. Những vùng trồng trên đất đã được quản lý có thể kiểm soát được nguồn kim loại nặng từ đất”.
Ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch VIPA cho rằng cần thúc đẩy các mô hình áp dụng quản lý dịch hại, kết hợp thực hiện quy định về mã số và mã hóa vùng trồng. Xây dựng các mô hình sử dụng thuốc có áp dụng IPM, IPHM, kết hợp với các quy định về mã số, mã hóa vùng trồng sẽ giúp giảm việc sử dụng thuốc một cách bừa bãi, giảm lạm dụng thuốc và thúc đẩy phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Theo hướng này, sẽ có nông sản an toàn cho người, cho môi trường và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
