Mở hướng nuôi biển bền vững
Với ngư dân vùng biển đảo An Giang, chiếc lồng nuôi gắn với vốn liếng và sinh kế của gia đình. Chuyển từ lồng gỗ truyền thống sang lồng nhựa HDPE vì thế không đơn thuần là thay vật liệu mà còn mở hướng tổ chức sản xuất an toàn, hiệu quả hơn. Khi được hỗ trợ đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường, người nuôi có thêm điều kiện để tính chuyện làm ăn lâu dài trên biển.

Ngư dân An Giang phần lớn vẫn nuôi biển bằng lồng bè gỗ, độ bền và sức chống chịu kém. Ảnh: Trung Chánh.
An Giang có hơn 200km bờ biển cùng nhiều đảo lớn nhỏ, thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy sản. Nghề nuôi cá lồng bè đã hình thành tại nhiều vùng biển đặc khu và các xã đảo Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu, Hòn Nghệ, Sơn Hải, Tiên Hải. Tuy nhiên, nhiều hộ vẫn nuôi nhỏ lẻ, thiếu vốn, sử dụng lồng truyền thống gần bờ và phụ thuộc thương lái khi tiêu thụ sản phẩm. Những hạn chế ấy khiến tiềm năng nuôi biển chưa được khai thác tương xứng.
Từ chính sách phát triển nuôi biển bền vững của tỉnh, Trung tâm Khuyến nông An Giang đã triển khai các chương trình hỗ trợ ngư dân, xây dựng các điểm mô hình trình diễn, đến nay đã nhân rộng được 120 lồng nhựa HDPE (giai đoạn 2022 – 2025). Qua thực tế triển khai, năng suất cá nuôi đạt khoảng 14 – 22kg/m³, cao hơn nuôi bằng lồng gỗ truyền thống. Kết quả này tạo cơ sở để ngư dân mạnh dạn đầu tư chuyển đổi, đồng thời cho thấy ý nghĩa của việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào phát triển nghề nuôi biển tại An Giang.
Ưu thế của lồng nhựa HDPE là độ bền cao, khả năng thích ứng với điều kiện sóng gió. Hệ thống được thiết kế phù hợp, có thể bố trí tại vùng biển xa bờ – nơi chất lượng nước tốt hơn. Kết hợp chọn vị trí và quản lý đúng kỹ thuật, cá có điều kiện sinh trưởng thuận lợi, giảm nguy cơ dịch bệnh, góp phần rút ngắn thời gian nuôi và tiết giảm chi phí.

Lồng nhựa HDPE có độ bền cao, chịu sóng gió tốt, thích hợp nuôi biển xa bờ. Ảnh: Trung Chánh.
Dù vậy, khoản đầu tư ban đầu vẫn là trở ngại lớn đối với nhiều gia đình. Lồng nhựa HDPE có thể sử dụng hàng chục năm, nhưng người nuôi phải có vốn để bắt đầu và duy trì sản xuất. Hiệu quả cần được tính trên cả thời gian sử dụng, khả năng chăm sóc, chi phí thức ăn và giá bán sản phẩm. Sự hỗ trợ từ hoạt động khuyến nông đối với nghề nuôi cá biển lồng bè vì thế có ý nghĩa tiếp sức cho ngư dân trong quá trình chuyển đổi.
Cùng với thiết bị, người dân được tiếp cận kỹ thuật chọn nơi đặt lồng, quản lý thức ăn, theo dõi môi trường và phòng bệnh. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp, kiểm soát thuốc, hóa chất, ghi chép nhật ký giúp quá trình nuôi rõ ràng hơn. Đây là nền tảng để nâng chất lượng cá thương phẩm, đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm và tạo điều kiện xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ.
Tiếp sức ngư dân đầu tư
Năm 2026, Trung tâm Khuyến nông An Giang triển khai chương trình phát triển nuôi biển bằng lồng HDPE thích ứng vùng biển đảo gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm. Chương trình dự kiến xây dựng các mô hình tại 13 điểm nuôi, tập trung vào cá bóp, cá mú Trân Châu và cá chim vây vàng. Mỗi điểm sử dụng 4 lồng HDPE kích thước 4 x 4 x 3m, tổng thể tích 192m³.

Năm 2026, Trung tâm Khuyến nông An Giang có kế hoạch hỗ trợ ngư dân chuyển từ lồng gỗ qua lồng nhựa HDPE tại 13 điểm nuôi. Ảnh: Trung Chánh.
Các mô hình kết hợp trồng rong sụn, riêng cá bớp và cá chim vây vàng còn kết hợp thêm nuôi hàu. Cách làm này hướng đến sử dụng hiệu quả không gian mặt nước, tạo thêm sản phẩm, giúp hộ dân có nhiều nguồn thu hơn. Thay vì đặt toàn bộ kỳ vọng vào một đối tượng, người nuôi có thêm lựa chọn để tổ chức sinh kế phù hợp với điều kiện vùng biển.
Cơ chế hỗ trợ giúp ngư dân giảm bớt gánh nặng đầu tư ban đầu. Trong đó, ngân sách hỗ trợ tối đa 30% chi phí đầu tư lồng, người dân đối ứng tối thiểu 70%. Với mức đầu tư khoảng 192 triệu đồng cho 4 lồng tại mỗi điểm, khoản hỗ trợ dự kiến là 57,6 triệu đồng. Chương trình còn hỗ trợ một phần thức ăn công nghiệp tùy đối tượng nuôi, cụ thể khoảng hơn 19 triệu đồng mỗi điểm nuôi cá bớp và gần 22 – 23 triệu đồng với cá mú Trân Châu hoặc cá chim vây vàng.

Hỗ trợ ngư dân chuyển từ lồng cây gỗ truyền thống sang lồng nhựa HDPE mở hướng tổ chức sản xuất an toàn, hiệu quả hơn. Ảnh: Trung Chánh.
Cơ chế đối ứng đòi hỏi hộ tham gia phải chuẩn bị nguồn lực và tính toán kỹ khả năng theo đuổi mô hình. Hộ được chọn cần có vốn đầu tư, kinh nghiệm nuôi cá lồng bè và năng lực quản lý, đồng thời cam kết thực hiện quy trình kỹ thuật, ghi chép nhật ký và phối hợp kiểm tra, đánh giá.
Liên kết tiêu thụ sản phẩm là nội dung then chốt của chương trình. Đầu ra ổn định giúp hộ nuôi chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, giảm rủi ro khi thu hoạch và tạo cơ sở để tính toán hiệu quả đầu tư. Mục tiêu liên kết tiêu thụ trên 90% sản phẩm cho thấy chương trình đặt yêu cầu thị trường bên cạnh yêu cầu kỹ thuật. Kết quả sẽ phụ thuộc vào cách tổ chức liên kết và khả năng đáp ứng yêu cầu của đơn vị thu mua. Với ngư dân vùng biển đảo, lồng nhựa HDPE mở thêm lựa chọn sinh kế và từng bước chuyển sang nuôi biển có kế hoạch, có quy trình.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
