TS. Phạm Anh Tuấn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết, thông tin lan truyền mạng trên xã hội cảnh báo “có loại cá rẻ như cho nhưng ăn vào chẳng khác thuốc độc”, trong đó có cá rô phi, đã khiến ông thực sự bức xúc.
Ông nhấn mạnh, bài viết đó “vu vơ, thiếu trách nhiệm”, khiến độc giả có thể coi cá rô phi là loài độc hại, từ đó làm mất niềm tin thị trường, gây bất lợi cho người nuôi, thậm chí “có thể giết chết cả một ngành hàng”.
“Nếu cá rô phi có độc hại thì bài viết phải đưa ra được dẫn chứng khoa học, cụ thể, chứ không thể viết vu vơ như vậy”, ông nói.

TS. Phạm Anh Tuấn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết, những thông tin sai sự thật về cá rô phi có thể giết chết cả một ngành hàng. Ảnh: Hồng Thắm.
Để làm rõ, TS. Phạm Anh Tuấn giải thích về thực tế nuôi cá rô phi hiện nay ở nước ta. Phần lớn cá rô phi ở Việt Nam được nuôi theo hai hình thức. Thứ nhất là nuôi thâm canh (công nghiệp), tức nuôi mật độ cao, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp, môi trường có kiểm soát. Hình thức này phổ biến, năng suất cao, chất lượng tốt. Thứ hai là nuôi ghép trong ao nuôi tôm, đặc biệt là ở vùng nước lợ; tuy năng suất thấp hơn nhưng chất lượng cá lại ngon hơn.
“Bây giờ không có chuyện nuôi cá bằng nước thải như ngày xưa đâu”, ông nhấn mạnh. Ông cũng nhắc lại rằng hình thức nuôi bằng nước thải chỉ tồn tại từ những năm 60 – 70 ở những ngoại thành, khi điều kiện còn khó khăn và hiện nay đã hoàn toàn chấm dứt.
Trước thông tin: “Cá rô phi nuôi công nghiệp trong môi trường ao tù, nước bẩn rất dễ tích tụ kim loại nặng và vi khuẩn”, TS. Phạm Anh Tuấn khẳng định, đây là “bậy bạ, vơ đũa cả nắm”.
Ông dẫn chứng, nhiều nước và cả Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đều công nhận cá rô phi là “con gà nước” và khuyến khích phát triển nuôi. Hiện sản lượng cá rô phi Việt Nam đạt gần 300.000 tấn/năm.
TS. Phạm Anh Tuấn phân tích thêm: Việt Nam đang hội tụ đủ điều kiện để đẩy mạnh nuôi và xuất khẩu cá rô phi. Về con giống, cả nguồn giống nội địa lẫn giống nhập khẩu đều đã đạt chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất. Thức ăn cho cá cũng đã đảm bảo cả về số lượng lẫn công thức dinh dưỡng, giúp ổn định chi phí và nâng cao hiệu quả nuôi.
Quan trọng hơn, hiện đã có doanh nghiệp thực sự tham gia vào chuỗi giá trị xuất khẩu. Chỉ tính riêng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đã đạt 41 triệu USD – một con số mang nhiều ý nghĩa. Đây là tiền đề quan trọng để mở rộng xuất khẩu trong tương lai, nhưng cần chiến lược rõ ràng và hành động quyết liệt hơn.
Tuy vậy, ông cũng chỉ ra vướng mắc lớn nhất hiện nay là bài toán tổ chức sản xuất để đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu. Khó khăn của doanh nghiệp nằm ở chỗ không có sẵn vùng nuôi nguyên liệu ổn định và không phải doanh nghiệp nào cũng sở hữu hệ thống trang trại đủ lớn để tự cung cấp. Vì vậy, bắt buộc phải dựa vào lực lượng nông dân, cần có cơ chế liên kết và tổ chức sản xuất chặt chẽ giữa nông dân và doanh nghiệp. Đây là vấn đề then chốt mà ngành cá rô phi cần đặc biệt quan tâm để phát triển bền vững.

Hiện sản lượng cá rô phi Việt Nam đạt gần 300.000 tấn/năm.
Ngoài ra, ông cũng lưu ý, ưu đãi thuế quan chỉ mang tính ngắn hạn. Để cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế, ngành cá rô phi Việt Nam cần tập trung vào hai yếu tố cốt lõi: Giá thành phải cạnh tranh và sản phẩm phải khác biệt.
TS. Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh vai trò của truyền thông: “Truyền thông có sức mạnh định hướng, nhưng muốn viết đúng thì phải hiểu biết, tìm hiểu kỹ và viết có trách nhiệm. Nếu thiếu hiểu biết, thông tin sai lệch sẽ gây hại cho cả một ngành”.
Ông Tuấn cũng cho biết, Hội Thủy sản Việt Nam sẽ sớm có công văn phản ánh và yêu cầu đính chính thông tin vô căn cứ về cá rô phi nói trên.
Những thông tin sai lệch, thiếu cơ sở khoa học không chỉ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của cá rô phi, mà còn trực tiếp đe dọa sinh kế của hàng vạn hộ nuôi trồng thủy sản và cản trở mục tiêu phát triển một ngành hàng đang có nhiều tiềm năng xuất khẩu. Vì vậy, việc truyền thông đúng đắn, minh bạch và trách nhiệm là yếu tố then chốt để bảo vệ hình ảnh cá rô phi, đồng thời mở ra cơ hội nâng cao giá trị và vị thế cho thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
