Phát biểu tại Hội nghị với chủ đề “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường” khu vực phía Bắc sáng 27/10, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết địa phương đang tập trung chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Với lợi thế về tài nguyên biển, hệ thống cảng biển, cửa khẩu và kết nối giao thương quốc tế, Quảng Ninh xác định kinh tế biển là một trong những động lực phát triển quan trọng. Trong đó, thủy sản chiếm trên 45% giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, riêng nuôi trồng thủy sản đóng góp khoảng 60% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh.

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Khương Trung.
Phát triển thương hiệu hàu Thái Bình Dương
Theo ông Nguyễn Văn Công, Quảng Ninh đã ban hành đề án phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung theo hướng công nghiệp, hiện đại, định hướng bố trí 5 vùng nuôi biển tập trung với tổng diện tích 93.600 ha. Địa phương chủ trương từng bước dịch chuyển hoạt động nuôi biển ra khu vực ngoài 3 hải lý, tiến tới 6 hải lý nhằm giảm áp lực môi trường và hình thành các vùng nuôi quy mô công nghiệp.
Đến tháng 9/2026, Quảng Ninh đã giao khu vực biển cho 57 tổ chức với diện tích gần 4.700 ha và 807 cá nhân với diện tích hơn 500 ha. Đáng chú ý, các cơ sở nuôi hàu Thái Bình Dương chiếm khoảng 60% tổng số cơ sở được giao biển, với diện tích nuôi khoảng 2.500 ha, tập trung tại các địa bàn như Cẩm Phả, Vân Đồn.
Trong tổ chức không gian nuôi biển, Quảng Ninh ưu tiên khu vực ven bờ cho sinh kế của người dân, đặc biệt là các hộ chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản. Các khu vực xa bờ được định hướng thu hút hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà đầu tư phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh nhìn nhận, để phát triển bền vững ngành hàng hàu Thái Bình Dương, địa phương cần giải quyết đồng thời nhiều điểm nghẽn về quy hoạch, môi trường, con giống, công nghệ chế biến và chuyển đổi số.
Trước hết, việc thiếu quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết không gian nuôi biển gây khó khăn trong giao khu vực biển và tổ chức sản xuất, đồng thời phát sinh xung đột không gian giữa các đối tượng nuôi như hàu, ngọc trai và cá biển.
Hàu Thái Bình Dương là loài ăn lọc, sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên. Vì vậy, việc phát triển mật độ nuôi cao trong khi thiếu nghiên cứu về sức tải môi trường và khả năng cung cấp sinh vật phù du đã ảnh hưởng đến năng suất.

Nuôi mật độ nuôi quá dày khiến hàu Quảng Ninh chất lượng thâó do không đủ thức ăn. Ảnh: Cường Vũ.
Một thách thức khác là chất lượng con giống. Theo lãnh đạo tỉnh, nhu cầu giống nhuyễn thể hằng năm của Quảng Ninh rất lớn, trong khi năng lực sản xuất tại chỗ mới đáp ứng khoảng 34%. Công tác chọn tạo, quản lý chất lượng đàn hàu bố mẹ chưa được quan tâm tương xứng, đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu hơn về di truyền, nguy cơ suy thoái giống và hiện tượng hàu chết hàng loạt.
Bên cạnh đó, công nghệ bảo quản, chế biến sâu phục vụ xuất khẩu còn hạn chế. Việc xử lý, tái sử dụng vỏ hàu sau thu hoạch cũng là vấn đề cấp thiết nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Trong quản lý sản xuất, dù Quảng Ninh đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc từ năm 2019, hạ tầng phần mềm và thiết bị vẫn thiếu đồng bộ, nhiều khâu còn nhập liệu thủ công, chưa tích hợp đầy đủ hệ thống cảm biến và cảnh báo môi trường tự động.
Đặt hàng khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn nuôi biển
Để tạo đột phá, Quảng Ninh đã phê duyệt chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 làm nguồn lực dẫn dắt thực hiện 8 chương trình khoa học công nghệ, trong đó có 3 chương trình thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
Tỉnh cũng định hướng phát triển hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học cấp độ 2, ngân hàng hạt giống, phôi, tinh và mạng lưới 20 cơ sở nhằm từng bước làm chủ công nghệ sinh học, cung cấp vật liệu giống chất lượng cao phục vụ sản xuất.
Theo ông Nguyễn Văn Công, mục tiêu nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị ngành hàng hàu Thái Bình Dương không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích nuôi.
“Muốn nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị hàu Thái Bình Dương, không chỉ mở rộng diện tích nuôi mà phải chuyển mạnh từ phát triển theo kinh nghiệm sang phát triển dựa trên khoa học công nghệ, dữ liệu và quản trị hiện đại”, ông Công nhấn mạnh.
Từ thực tiễn đó, Quảng Ninh xác định những khó khăn của ngành nuôi biển là các bài toán cụ thể đặt hàng đội ngũ nhà khoa học, tập trung vào chọn tạo giống, đánh giá sức tải môi trường, hoàn thiện mô hình nuôi, công nghệ chế biến và truy xuất nguồn gốc.
Lãnh đạo tỉnh đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ kết nối các chương trình nghiên cứu, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ nuôi biển tiên tiến; hướng dẫn hoàn thiện quy trình, quy chuẩn kỹ thuật đối với nuôi hàu và vật liệu nổi trong nuôi biển; đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý cho phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững.
Phát biểu trao đổi sau tham luận của tỉnh Quảng Ninh, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh vai trò của xây dựng thương hiệu trong nâng cao giá trị nông lâm thủy sản. Lấy ví dụ từ sản phẩm hàu Thái Bình Dương, Bộ trưởng cho rằng đây là tên gọi đã có độ nhận diện trên thị trường và tiềm năng xuất khẩu. Theo Bộ trưởng, cùng với ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, các địa phương cần đặc biệt chú trọng xây dựng thương hiệu nhằm gia tăng giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
