Yên tâm nhờ đầu ra ổn định
Những năm gần đây, mô hình liên kết sản xuất đậu nành giữa người dân xã Long Phụng (tỉnh Quảng Ngãi) với Nhà máy sữa đậu nành Vinasoy đã và đang mang lại hiệu quả rõ nét. Mô hình không chỉ giúp nông dân ổn định đầu ra, nâng cao thu nhập mà còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất, hướng đến nền nông nghiệp hàng hóa bền vững.
Trên những cánh đồng từng canh tác manh mún, nhỏ lẻ, giờ đây đậu nành được gieo trồng theo quy hoạch, đồng bộ về giống, kỹ thuật và quy trình chăm sóc. Người dân tham gia tổ liên kết được hỗ trợ từ khâu làm đất, chọn giống đến thu hoạch, tạo chuỗi sản xuất khép kín gắn với tiêu thụ sản phẩm.

Mô hình liên kết trồng đậu nành của người dân xã Long Phụng (tỉnh Quảng Ngãi) và Nhà máy sữa đậu nành Vinasoy đã triển khai được gần 10 năm. Ảnh: L.K.
Gia đình bà Nguyễn Thị Nghĩa ở thôn Phú An là một trong những hộ tham gia mô hình từ những ngày đầu. Trước đây, bà chủ yếu trồng các loại cây hoa màu như đậu, bắp… nhưng thu nhập không cao. Khi chuyển sang trồng đậu nành theo hình thức liên kết, hiệu quả kinh tế được cải thiện rõ rệt.
Bà Nghĩa cho biết, với diện tích 1 sào (500m2), nếu trồng bắp (ngô), doanh thu mỗi vụ chỉ khoảng hơn 2 triệu đồng, sau khi trừ chi phí lãi khoảng hơn 1 triệu đồng. Trong khi đó, cùng diện tích này, đậu nành cho năng suất khoảng 1,2 tấn, với giá thu mua 30.000 đồng/kg, lợi nhuận đạt hơn 2,5 triệu đồng. Không chỉ vậy, chi phí đầu vào và công chăm sóc của cây đậu nành cũng thấp hơn khoảng 30% so với cây bắp.
Do điều kiện thời tiết, hiện mỗi năm người dân xã Long Phụng chỉ sản xuất một vụ đậu nành vào mùa đông xuân theo hình thức liên kết với Công ty Vinasoy. Sau đó bà con có thể chủ động lựa chọn các cây trồng khác phù hợp. Theo chia sẻ của người dân địa phương, điểm nổi bật của cây đậu nành là khả năng cải tạo đất. Thuộc nhóm cây họ đậu nên sau mỗi vụ trồng đất trở nên tơi xốp, tăng độ màu mỡ, giúp các cây trồng ở vụ sau sinh trưởng tốt hơn, cho năng suất cao hơn. Đây là yếu tố khiến nhiều hộ dân ưa chuộng và duy trì canh tác lâu dài.

Người dân tham gia mô hình liên kết được hướng dẫn kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm nên hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng truyền thống khác. Ảnh: L.K.
Ông Lê Văn Trường, Tổ trưởng Tổ liên kết sản xuất đậu nành thôn Phú An cho hay, nhờ những lợi thế trên, mô hình liên kết với Vinasoy đã được người dân duy trì gần 10 năm với hơn 20 hộ tham gia. Trước khi bước vào sản xuất, các hộ đều được tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc đảm bảo khoa học, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo chất lượng hạt đồng đều, đáp ứng yêu cầu của nhà máy.
Theo ông Trường, trong quá trình sản xuất, các thành viên thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau. “Khi gặp khó khăn về kỹ thuật hoặc thời tiết, Tổ liên kết chủ động phối hợp với cán bộ khuyến nông và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ. Nhờ đó, năng suất và chất lượng đậu nành luôn được giữ ổn định. Đặc biệt, việc có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm với mức giá thỏa thuận từ đầu vụ giúp người dân yên tâm sản xuất, không lo bị ép giá. Đến kỳ thu hoạch, sản phẩm được thu mua tận nơi, tạo thêm động lực để bà con gắn bó với mô hình”, ông Trường nói.
Hướng đến chuỗi giá trị bền vững
Không chỉ cho hiệu quả kinh tế cao và ổn định, mô hình liên kết trồng đậu nành tại Long Phụng còn góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân từ manh mún sang sản xuất hàng hóa có tổ chức, có hợp đồng và có sự đồng hành của doanh nghiệp. Đại diện Công ty Vinasoy cho biết, tại Quảng Ngãi, ngoài xã Long Phụng, Công ty còn liên kết trồng đậu nành với nông dân xã Đình Cương từ năm 2014. Sản phẩm sau thu hoạch sẽ cung ứng giống cho các vùng sản xuất khác, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên.
Trong quá trình liên kết, doanh nghiệp và nông dân luôn có sự thỏa thuận rõ ràng về giá thu mua, tiêu chuẩn chất lượng trước khi xuống giống. Vinasoy cung ứng giống chất lượng, hỗ trợ kỹ thuật trong suốt mùa vụ, giám sát quy trình sản xuất và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đạt chuẩn với mức giá cam kết từ đầu vụ.

Hạt đậu nành sau khi thu hoạch được cung ứng làm giống cho các vùng sản xuất ở khu vực Tây Nguyên. Ảnh: L.K.
Việc ký kết hợp tác được thực hiện thông qua tổ hợp tác đại diện cho các hộ nông dân, có sự xác nhận của chính quyền địa phương. Các thông tin như diện tích, sản lượng, giá thu mua, tiêu chí chất lượng đều được thống nhất minh bạch, tạo niềm tin cho người sản xuất. Trong trường hợp phát sinh rủi ro do thời tiết hay sâu bệnh, hai bên cũng có cơ chế phối hợp để giải quyết hài hòa lợi ích. Chính sự minh bạch và đồng hành này đã giúp mô hình liên kết duy trì ổn định trong nhiều năm.
TS Lê Hoàng Duy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng đậu nành Vinasoy cho biết, hiện diện tích liên kết sản xuất đậu nành tại Quảng Ngãi dao động từ 10 đến 20ha mỗi năm do nhu cầu giống chưa lớn. Tuy nhiên, khi các vùng sản xuất mở rộng, doanh nghiệp sẽ tăng diện tích liên kết để đảm bảo nguồn cung hạt giống.
“Mục tiêu lâu dài của chúng tôi là xây dựng chuỗi giá trị bền vững cho cây đậu nành tại Quảng Ngãi, gắn với nghiên cứu, phát triển giống và mở rộng vùng nguyên liệu. Để đạt được điều này, cần có sự vào cuộc của chính quyền trong việc quy hoạch cánh đồng lớn, đẩy mạnh cơ giới hóa, giảm chi phí sản xuất và duy trì sự hợp tác ổn định từ phía người dân”, ông Duy chia sẻ.
Ông Ngô Văn Thanh, Chủ tịch UBND xã Long Phụng đánh giá mô hình liên kết giữa người dân địa phương và Công ty Vinasoy đã và đang phát huy hiệu quả rõ nét. Cây đậu nành mang lại thu nhập khá, cao hơn so với nhiều cây trồng truyền thống trước đây.
Mô hình không chỉ giúp nâng cao thu nhập mà còn góp phần hạn chế tình trạng được mùa mất giá, đồng thời giúp nông dân tiếp cận quy trình sản xuất tiên tiến, nâng cao chất lượng nông sản. Đây cũng là hướng đi phù hợp trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp địa phương.
“Việc phát triển cây đậu nành theo hướng liên kết đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hình thành vùng sản xuất ổn định phục vụ cho nhà máy. Đây là tiền đề để địa phương tiếp tục mở rộng mô hình, hướng đến xây dựng nền nông nghiệp theo chuỗi giá trị, nâng cao thu nhập và phát triển bền vững”, ông Ngô Văn Thanh nhấn mạnh.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
