Cơ giới hóa đồng bộ
Trên cánh đồng 200 ha của HTX Dịch vụ nông nghiệp Long Hải (xã Sơn Kiên, tỉnh An Giang), nông dân vừa thu hoạch xong vụ lúa hè thu 2026 với sự thay đổi khá rõ trong phương thức tổ chức sản xuất. Thay vì cơ giới hóa từng khâu riêng lẻ, 46 hộ thành viên HTX tham gia mô hình đã áp dụng đồng bộ máy móc, thiết bị từ gieo sạ, chăm sóc đến thu hoạch, gắn với quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Hội thảo đầu bờ đánh giá mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp theo chuỗi giá trị tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Long hải. Ảnh: Trung Chánh.
Toàn bộ diện tích được gieo giống ĐS1 cấp xác nhận bằng thiết bị bay không người lái (drone). Lượng giống gieo sạ chỉ 70kg/ha, thấp hơn mức 80kg/ha ở ruộng đối chứng. Việc sử dụng drone giúp xuống giống nhanh, đồng đều, phù hợp với yêu cầu gieo sạ tập trung, tạo thuận lợi cho các khâu chăm sóc tiếp theo.
Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông An Giang cho biết, drone không chỉ gieo giống mà còn được sử dụng để bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật, giúp HTX từng bước chủ động dịch vụ cơ giới hóa. Chương trình hỗ trợ 30% chi phí mua drone, tạo điều kiện để HTX đầu tư thiết bị phục vụ thành viên thay vì từng hộ phải tự thuê riêng lẻ.
Cơ giới hóa được kết hợp với các công nghệ quản lý đồng ruộng. Tại vùng sản xuất, các ống cảm biến được lắp đặt để theo dõi mực nước, phục vụ phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ (AWD) và tính toán phát thải khí nhà kính. Trạm giám sát côn trùng thông minh cũng được đưa vào sử dụng nhằm theo dõi, dự báo dịch hại để nông dân xử lý đúng thời điểm.
Nhờ giảm mật độ gieo sạ, bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp, lượng vật tư đầu vào giảm đáng kể. Tổng lượng phân bón sử dụng trong mô hình thấp hơn ruộng đối chứng hơn 28kg/ha, lượng đạm nguyên chất giảm hơn 16kg/ha, lân giảm hơn 18kg/ha và kali giảm 11kg/ha.

Mô hình áp gụng cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất, gieo sạ, chắm sóc, đến thu hoạch, gắn với quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Trung Chánh.
Số lần sử dụng thuốc BVTV cũng giảm từ 8 lần xuống còn 7 lần/vụ. Trong điều kiện thời tiết vụ hè thu khá bất lợi, kết quả này cho thấy khi cơ giới hóa đi cùng quy trình kỹ thuật, nông dân không chỉ giảm công lao động mà còn có thể kiểm soát tốt hơn lượng giống, phân bón và thuốc BVTV.
Cơ giới hóa tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Long Hải không dừng ở mục tiêu thay sức người bằng máy móc. Máy móc được đặt trong quy trình sản xuất thống nhất, từ làm đất bằng phẳng, gieo sạ mật độ thưa, quản lý nước AWD, quản lý dịch hại tổng hợp đến thu hoạch cơ giới. Đây là yếu tố tạo nên giá trị của cơ giới hóa đồng bộ.
Giảm chi phí, tăng lợi nhuận
Theo đánh giá của cán bộ khuyến nông cộng đồng theo dõi mô hình, năng suất lúa tươi thực tế bình quân của mô hình đạt 7,5 tấn/ha, cao hơn ruộng ngoài mô hình 200kg/ha. Điều đáng chú ý là ruộng mô hình gieo thưa nên số bông/m2 thấp hơn, nhưng số hạt chắc mỗi bông đạt 82 hạt, trong khi ruộng đối chứng chỉ đạt 71 hạt.

Cán bộ kỹ thuật khuyến nông An Giang theo dõi mô hình giới thiệu quy trình sản xuất, đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường cuối vụ. Ảnh: Trung Chánh.
Cùng với năng suất, bài toán chi phí được cải thiện đáng kể. Bình quân chi phí sản xuất trong mô hình khoảng 28,7 triệu đồng/ha, thấp hơn gần 2,5 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình. Khoản tiết kiệm đến từ giảm lượng giống, phân bón, thuốc BVTV và số lần thực hiện các công đoạn chăm sóc.
Với giá bán 6.200 đồng/kg, tổng thu bình quân của mô hình đạt 46,5 triệu đồng/ha, lợi nhuận đạt hơn 17,7 triệu đồng/ha, cao hơn khoảng 3,7 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình. Điều này cho thấy khi gieo sạ với mật độ hợp lý, cây lúa có điều kiện phát triển khỏe, dinh dưỡng được sử dụng hiệu quả hơn và năng suất cuối vụ vẫn tăng, mang lại lợi nhuận cao hơn.
Đặc biệt, kết quả tổng kết cho thấy 100% diện tích mô hình đã thực hiện cơ giới hóa đồng bộ trong gieo sạ, chăm sóc và thu hoạch. Đây là bước tiến quan trọng trong tổ chức sản xuất quy mô lớn, bởi khi máy móc hoạt động trên vùng nguyên liệu tập trung, chi phí dịch vụ được tiết giảm, tiến độ sản xuất đồng đều hơn, việc áp dụng quy trình kỹ thuật cũng thuận lợi hơn.
Hiệu quả còn được đo bằng lượng phát thải giảm trên đồng ruộng. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy tổng phát thải trong mô hình khoảng 2.044kg CO2 tương đương/ha/vụ, trong khi ngoài mô hình hơn 4.808kg. Mức giảm hơn 50% lượng khí thải CO2 cho thấy cơ giới hóa kết hợp với quản lý nước, dinh dưỡng và rơm rạ hợp lý có thể đồng thời giải quyết bài toán kinh tế và môi trường.

Sau thu hoạch lúa, rơm rạ được xử lý bằng chế phẩm sinh học kết hợp xới vùi để phân hủy nhanh. Ảnh: Trung Chánh.
Sau thu hoạch, rơm rạ được xử lý bằng chế phẩm sinh học để phân hủy nhanh, trả dinh dưỡng lại cho đất, hạn chế đốt đồng. Sản xuất vì vậy được nối tiếp thành quy trình khép kín, hướng đến kinh tế tuần hoàn thay cho phương thức canh tác chỉ chú trọng năng suất.
Kết quả sản xuất tại xã Sơn Kiên cho thấy cơ giới hóa đồng bộ không đơn thuần là đưa thêm máy móc xuống đồng ruộng. Khi gắn với HTX, vùng nguyên liệu tập trung, quy trình canh tác tiết kiệm đầu vào và liên kết tiêu thụ, cơ giới hóa trở thành công cụ tổ chức lại sản xuất. Từ đó người trồng lúa có thể giảm giá thành, nâng lợi nhuận, kiểm soát chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, phát thải thấp.
Để kết quả này được nhân rộng, việc hỗ trợ đầu tư thiết bị, hoàn thiện thủy lợi nội đồng và tạo điều kiện cho HTX phát triển dịch vụ cơ giới hóa cần tiếp tục được quan tâm. Khi từng khâu sản xuất được kết nối thành chuỗi đồng bộ, cánh đồng lớn không chỉ mở rộng về diện tích mà còn tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của hạt gạo.

TS Lê Văn Dũng (bìa trái) giới thiệu thiết bị cảm biến được lắp đặt để theo dõi mực nước, phục vụ phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ và tính toán phát thải khí nhà kính. Ảnh: Trung Chánh.
Tại hội thảo đầu bờ, An Giang đã đón đoàn công tác của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk đến tham quan, học tập các mô hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển đổi số.
Một trong những nội dung được đoàn quan tâm là mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với cơ giới hóa đồng bộ, gieo sạ chính xác và quản lý nước thông minh. Qua thực tế trên đồng ruộng, các thành viên trao đổi kinh nghiệm về tổ chức sản xuất tập trung, sử dụng drone trong gieo sạ, chăm sóc, áp dụng tưới ngập – khô xen kẽ, giảm giống, phân bón, thuốc BVTV và nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc. Đồng thời tìm hiểu vai trò của tổ khuyến nông cộng đồng trong chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ nông dân, HTX tổ chức sản xuất và kết nối doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Từ đó lựa chọn giải pháp phù hợp để vận dụng vào thực tiễn sản xuất tại địa phương.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
