Số hóa nguồn gốc hải sản
Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang nỗ lực phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững, việc ứng dụng công nghệ số vào quản lý khai thác và truy xuất nguồn gốc hải sản đang trở thành xu thế tất yếu. Tại Hà Tĩnh, địa phương có hơn 137 km bờ biển và hàng nghìn tàu cá hoạt động thường xuyên trên biển, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thủy sản đang tạo ra những thay đổi rõ nét, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch của sản phẩm và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Cơ quan chức năng tuyên truyền, hướng dẫn khai báo truy xuất nguồn gốc hải sản điện tử. Ảnh: Thanh Nga.
Những năm trước đây, công tác quản lý tàu cá, ghi nhận sản lượng khai thác hay xác nhận nguồn gốc thủy sản chủ yếu được thực hiện thủ công. Thông tin được ghi chép bằng sổ sách, giấy tờ, gây khó khăn cho việc kiểm tra, đối chiếu và truy xuất khi cần thiết. Tuy nhiên, cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, ngành thủy sản Hà Tĩnh đã từng bước ứng dụng các nền tảng công nghệ hiện đại nhằm số hóa toàn bộ chuỗi khai thác.
Một trong những giải pháp nổi bật đang được triển khai là hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT). Thông qua hệ thống này, mọi hoạt động xuất bến, cập cảng, sản lượng khai thác và thông tin hành trình của tàu cá đều được cập nhật trực tuyến.
Ông Thân Quốc Tế, Phó Giám đốc Ban quản lý các cảng cá Hà Tĩnh chia sẻ, sau nhiều năm tuyên truyền, tập huấn, thực hành, hiện hầu hết ngư dân trong và ngoài tỉnh có đội tàu ra vào 4 cảng cá Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu, Xuân Hội đã quen với việc khai báo điện tử thay cho các thủ tục giấy tờ truyền thống.
Mỗi chuyến biển khi kết thúc, dữ liệu về sản lượng đánh bắt, vị trí khai thác, thời gian hoạt động trên biển và các thông tin liên quan đều được cập nhật lên hệ thống. Điều này giúp cơ quan quản lý dễ dàng theo dõi quá trình khai thác, đồng thời tạo cơ sở dữ liệu đầy đủ phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm khi đưa ra thị trường.

Chuyển đổi số góp phần giảm sai sót trong quá trình nhập liệu. Ảnh: Thanh Nga.
“Việc áp dụng eCDT không chỉ giúp tiết kiệm thời gian xử lý hồ sơ mà còn giảm thiểu sai sót trong quá trình nhập liệu. Đặc biệt, dữ liệu được lưu trữ tập trung và kết nối đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, tạo nên hệ sinh thái quản lý nghề cá số hóa toàn diện”, ông Tế nói.
Ngư dân Hoàng Văn Viên, chủ tàu cá TH-92148-TS cho biết, tàu của ông chuyên đánh bắt vùng biển từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh và thường xuyên cập cảng Cửa Sót để làm thủ tục. Mỗi khi tàu cập cảng, ngư dân đều được hướng dẫn khai báo trên hệ thống eCDT. Việc thực hiện khá thuận tiện, thông tin được cập nhật đầy đủ.
Song song với hệ thống eCDT, Hà Tĩnh cũng đẩy mạnh sử dụng thiết bị giám sát hành trình (VMS) đối với tàu cá khai thác vùng khơi. Thiết bị này hoạt động như một “hộp đen” trên biển, liên tục truyền dữ liệu về vị trí, tốc độ và hướng di chuyển của tàu về trung tâm giám sát. Nhờ công nghệ VMS, cơ quan chức năng có thể theo dõi hoạt động của tàu cá theo thời gian thực, phát hiện sớm các trường hợp mất tín hiệu, vượt ranh giới cho phép hoặc có dấu hiệu vi phạm quy định khai thác. Đồng thời, dữ liệu hành trình cũng trở thành bằng chứng quan trọng để chứng minh nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm thủy sản.
Đối với ngư dân, việc lắp đặt và duy trì hoạt động của thiết bị VMS không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Trong trường hợp gặp sự cố trên biển, lực lượng chức năng có thể nhanh chóng xác định vị trí tàu để hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn. Ngoài ra, dữ liệu hành trình còn giúp chủ tàu quản lý hoạt động sản xuất hiệu quả hơn.

Hiện toàn bộ 3.890 tàu cá trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã được đăng ký, cập nhật đầy đủ trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia. Ảnh: Thanh Nga.
Sự kết hợp giữa hệ thống eCDT và VMS đang hình thành chuỗi dữ liệu khép kín, cho phép truy xuất nguồn gốc hải sản từ khi được khai thác trên biển cho đến khi cập cảng và đưa vào chế biến, tiêu thụ. Đây được xem là nền tảng quan trọng để xây dựng thương hiệu thủy sản minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tham gia chống khai thác IUU
Thời điểm này đang bước vào giai đoạn nước rút Việt Nam tập trung gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Đây không chỉ là vấn đề liên quan đến bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu thủy sản vào các thị trường lớn trên thế giới.

Ngành thủy sản Hà Tĩnh tiếp tục hướng tới xây dựng hệ sinh thái nghề cá số đồng bộ. Ảnh: Thanh Nga.
Ông Nguyễn Trọng Nhật, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh nhìn nhận, việc áp dụng chuyển đổi số vào công tác giám sát tàu cá, truy xuất nguồn gốc hải sản đã góp phần chung tay cùng cả nước chống khai thác IUU. Hiện toàn bộ 3.890 tàu cá trên địa bàn tỉnh đã được đăng ký, cập nhật đầy đủ trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia. 100% tàu cá khai thác vùng khơi đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình; không có tàu cá, ngư dân vi phạm khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài.
“Thời gian tới ngành thủy sản Hà Tĩnh tiếp tục hướng tới xây dựng hệ sinh thái nghề cá số đồng bộ, kết nối dữ liệu từ tàu cá, cảng cá, doanh nghiệp chế biến và cơ quan quản lý. Cùng với việc hoàn thiện hạ tầng công nghệ, địa phương sẽ đẩy mạnh số hóa hồ sơ tàu cá, quản lý sản lượng khai thác theo thời gian thực và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trên toàn chuỗi giá trị”, ông Nhật nói thêm.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
