Nguồn đạm thực vật giàu dinh dưỡng
Theo GS.TS Trần Đình Long, đậu nành là cây đa tác dụng, vừa cung cấp nguồn đạm thực vật, vừa là nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất. Đáng chú ý, cây còn có khả năng cố định đạm, góp phần cải tạo đất và giảm nhu cầu sử dụng phân bón hóa học.
“Đậu nành sử dụng ít nước hơn nhiều cây trồng khác và góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Từ đậu nành có thể sản xuất hơn 800 loại sản phẩm phục vụ đời sống”, GS.TS Trần Đình Long chia sẻ.
Đậu nành đã xuất hiện trong bữa ăn của người Việt từ nhiều thế hệ, với những sản phẩm quen thuộc như đậu phụ, sữa đậu nành, dầu đậu nành hay các sản phẩm lên men. Giá trị nổi bật của loại hạt này là hàm lượng protein cao. Trong 100g đậu nành khô có khoảng 36 – 40g protein, trong khi cùng khối lượng thịt bò có khoảng 20 – 22g. Đậu nành cũng là một trong số ít nguồn đạm thực vật cung cấp đủ 9 axit amin thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được.

GS.TS Trần Đình Long gọi đậu nành là ‘vàng mọc trên đất’.
Ngoài protein, đậu nành còn chứa chất béo không bão hòa, chất xơ và các hợp chất hoạt tính sinh học như isoflavone. Đây là những thành phần khiến đậu nành được quan tâm trong nghiên cứu dinh dưỡng và phát triển thực phẩm có nguồn gốc thực vật.
Từ giá trị của hạt đậu, Vinasoy lựa chọn đậu nành làm hướng nghiên cứu trọng tâm trong gần 30 năm. Doanh nghiệp cho biết đã xây dựng ngân hàng hơn 2.200 nguồn gen đậu nành tự nhiên, phục vụ nghiên cứu và chọn tạo các giống thuần chủng, không biến đổi gen, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của từng vùng.
Song song với nghiên cứu giống, doanh nghiệp cũng phát triển công nghệ nghiền nguyên hạt nhằm giữ lại nhiều hơn các thành phần tự nhiên trong hạt đậu, trong đó có chất xơ và các dưỡng chất khác. Công nghệ này được ứng dụng trong một số sản phẩm sữa đậu nành của Vinasoy.
Cây đậu nành có thể tự tạo một phần nguồn đạm
Không chỉ có giá trị đối với con người, đậu nành còn có một đặc điểm đáng chú ý trong sản xuất nông nghiệp là khả năng cố định nitơ trong không khí.
Ở rễ cây đậu nành có các nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium. Thông qua quá trình cộng sinh, những vi khuẩn này giúp cây chuyển nitơ trong không khí thành dạng dinh dưỡng mà cây có thể sử dụng.
Nói một cách dễ hiểu, cây đậu nành có thể tự tạo một phần nguồn đạm cho mình thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào phân bón từ bên ngoài. Đây cũng là lý do đậu nành thường được ví như một “nhà máy sản xuất đạm” tự nhiên.

Đậu nành là cây đa tác dụng, vừa cung cấp nguồn đạm thực vật, vừa là nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất.
Theo GS.TS Trần Đình Long, tùy giống và điều kiện canh tác, mỗi hecta đậu nành có thể cố định khoảng 94 – 168kg nitơ, tương đương lượng dinh dưỡng có trong khoảng 200 – 400kg phân urê.
Tuy nhiên, lượng nitơ này không có nghĩa có thể thay thế trực tiếp từng ấy phân urê cho vụ sau. Một phần được cây sử dụng để sinh trưởng và tạo hạt, phần còn lại nằm trong rễ, thân, lá và sẽ trở lại đất khi tàn dư thực vật phân hủy.
Nếu được quản lý phù hợp, phần sinh khối sau thu hoạch có thể bổ sung chất hữu cơ, góp phần cải thiện độ tơi xốp và môi trường sống của vi sinh vật trong đất. Khi đưa đậu nành vào hệ thống luân canh, khả năng cố định nitơ của cây cũng có thể giúp giảm một phần nhu cầu sử dụng phân đạm cho hệ thống sản xuất.
Bên cạnh đó, đậu nành nhìn chung có nhu cầu nước thấp hơn cây lúa. Những đặc điểm này khiến đậu nành được quan tâm trong các mô hình sản xuất hướng tới sử dụng hiệu quả đất, nước và phân bón.

Đậu nành đã xuất hiện trong bữa ăn của người Việt từ nhiều thế hệ với những sản phẩm quen thuộc như đậu phụ, sữa đậu nành, dầu đậu nành hay các sản phẩm lên men.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gây sức ép lên đất, nước và sản xuất nông nghiệp, những cây trồng vừa tạo ra sản phẩm có giá trị vừa sử dụng tài nguyên hiệu quả đang được quan tâm nhiều hơn.
Đậu nành có những lợi thế nhất định ở cả hai khía cạnh. Hạt đậu cung cấp nguồn đạm thực vật, trong khi cây có khả năng cố định nitơ và để lại sinh khối hữu cơ cho đất sau thu hoạch.
Tất nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào giống, đất đai, thời tiết và kỹ thuật canh tác. Đậu nành cũng không thể thay thế hoàn toàn phân bón hóa học. Nhưng nếu được bố trí hợp lý trong hệ thống luân canh, loại cây này có thể trở thành một mắt xích trong hướng sản xuất tiết kiệm đầu vào và bền vững hơn.
Với Vinasoy, câu chuyện về cây đậu nành vì vậy bắt đầu từ trước khi hạt đậu trở thành sản phẩm. Nghiên cứu nguồn gen, chọn tạo giống, phát triển vùng nguyên liệu và ứng dụng công nghệ chế biến là những bước được doanh nghiệp theo đuổi trong quá trình gần 30 năm gắn bó với loại cây này.
Còn với GS.TS Trần Đình Long, sau hơn 60 năm nghiên cứu và gắn bó với đậu nành, cách gọi “vàng mọc trên đất” vẫn thể hiện khá đầy đủ giá trị của loại cây này, là một nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, đồng thời có những đặc tính đáng chú ý đối với đất và sản xuất nông nghiệp.
Trong tương lai, khi sản xuất nông nghiệp phải tính toán kỹ hơn về đất, nước, phân bón và phát thải, những giá trị ấy có thể trở thành cơ sở để đậu nành được quan tâm nhiều hơn trong các hệ thống sản xuất của Việt Nam.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
