Niềm vui từ những vườn sầu riêng chờ mã
Ở thôn 1, xã Ea Ktur, những ngày đầu tháng 8, mùa sầu riêng đang bước vào cao điểm thu hoạch. Trong khu vườn rộng 3ha, ông Nguyễn Văn Châu vừa kiểm tra những chùm quả đã đủ độ già, vừa nhắc đến câu chuyện mà gia đình ông mong chờ nhiều năm qua là “mã số vùng trồng”.

Ông Nguyễn Văn Châu, trú thôn 1, xã Ea Ktur, tỉnh Đắk Lắk kiểm tra trái sầu riêng để chuẩn bị cho thương lái vào thu mua. Ảnh: Phạm Hoài.
Gia đình ông Châu có khoảng 500 cây sầu riêng trồng xen trên diện tích cây trồng khác, phần lớn cây đã cho thu hoạch ổn định. Vụ này, sản lượng dự kiến hơn 30 tấn. Với giá bán khoảng 60.000 đồng/kg, đây là nguồn thu đáng kể đối với một hộ nông dân.
Thế nhưng, điều ông Châu quan tâm hơn cả lúc này không chỉ là sản lượng hay giá bán. Đó là làm sao trái sầu riêng từ khu vườn của gia đình có thể đi vào những kênh tiêu thụ ổn định hơn.
Nhiều năm chưa có mã số vùng trồng, việc tiêu thụ sản phẩm của gia đình ông phần lớn vẫn phụ thuộc vào thương lái. Khi thị trường thuận lợi, người trồng có thể bán được giá tốt. Tuy nhiên, lúc thị trường biến động, người nông dân thường khó có khả năng lựa chọn đầu ra.
Bởi vậy, khi nghe thông tin Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai những chính sách mới, tháo gỡ các bất cập trong cấp mã số vùng trồng, ông Châu không giấu được sự phấn khởi.
“Có mã số vùng trồng thì việc tiêu thụ sẽ thuận lợi hơn. Người dân cũng có thêm cơ hội kết nối với doanh nghiệp”, ông Châu chia sẻ.
Niềm vui của ông Châu cũng là tâm trạng chung của nhiều hộ trồng sầu riêng đang chờ cơ hội bước vào những chuỗi tiêu thụ chính thức. Với họ, mã số vùng trồng không còn là câu chuyện của riêng ngành quản lý. Đó là “tấm vé” để nông sản có thể đi xa hơn, minh bạch hơn và tiếp cận những thị trường có giá trị cao.

Ông Nguyễn Văn Châu, trú thôn 1, xã Ea Ktur, tỉnh Đắk Lắk tỏ ra hết sức vui mừng khi nghe thông tin từ bà Đặng Thị Thuỷ, Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk về chiến dịch 30 ngày hỗ trợ cấp mã vùng trồng. Ảnh: Phạm Hoài.
Cả hệ thống cùng chạy đua với thời gian
Đắk Lắk hiện có khoảng 41.000ha sầu riêng, sản lượng năm 2026 dự kiến khoảng 500.000 tấn. Riêng niên vụ năm 2025 xuất khẩu ước đạt trên 1,1 tỷ USD. Quy mô này đưa địa phương trở thành một trong những vùng sản xuất sầu riêng lớn nhất cả nước và giữ vai trò quan trọng trong chuỗi ngành hàng có giá trị xuất khẩu cao.
Nhưng quy mô càng lớn thì yêu cầu quản lý càng chặt. Thị trường nhập khẩu không chỉ quan tâm đến chất lượng quả mà ngày càng yêu cầu rõ hơn về vùng trồng, cơ sở đóng gói, nguồn gốc sản phẩm và khả năng truy xuất.
Trong bối cảnh đó, Đắk Lắk đã khởi động chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa dữ liệu, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng với hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, cho rằng việc quan trọng nhất lúc này là phải chuẩn hóa dữ liệu ngay từ đầu vào. Theo bà Thủy, chiến dịch không chỉ là công việc của riêng ngành nông nghiệp mà cần sự tham gia của chính quyền cơ sở, người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các lực lượng hỗ trợ chuyển đổi số.
“Tỉnh đã chia chiến dịch thành từng nhóm, từng phần việc, phân công rõ trách nhiệm, đồng thời huy động đoàn viên thanh niên và những người am hiểu công nghệ tại địa phương hỗ trợ quá trình số hóa. Đây là một cuộc huy động tổng lực”, bà Thủy nhấn mạnh.

Nhiều hộ trồng sầu riêng đang chờ cơ hội bước vào những chuỗi tiêu thụ chính thức sau khi được cấp mã vùng trồng. Ảnh: Phạm Hoài.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết sau khi Nghị quyết 36 được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức hội nghị toàn quốc, hướng dẫn các địa phương triển khai cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo quy định mới.
Điểm đáng chú ý là quy trình cấp mã được thực hiện toàn trình trên Cổng dịch vụ công quốc gia, từ cấp xã liên thông lên cấp tỉnh, cấp bộ và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu. Cách làm này giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và minh bạch hơn trong quản lý. Nghị quyết cũng bỏ giới hạn diện tích khi cấp mã số vùng trồng, tạo điều kiện cho cả những vườn nhỏ và vùng sản xuất quy mô lớn được đăng ký.
“Tuy nhiên, khuyến khích nông dân liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã, hình thành vùng sản xuất tập trung để thuận lợi cấp mã, giảm chi phí kiểm nghiệm và đáp ứng tốt hơn yêu cầu xuất khẩu”, ông Mạnh nói thêm.
Nếu cấp mã số vùng trồng là bước mở cửa để nông sản tham gia sâu hơn vào chuỗi xuất khẩu thì dữ liệu chính xác, đầy đủ và có khả năng kết nối chính là nền tảng để cánh cửa ấy vận hành lâu dài. Khi thông tin về vùng trồng, người sản xuất, cây trồng và quá trình sản xuất được chuẩn hóa, việc truy xuất nguồn gốc không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn giúp cơ quan quản lý theo dõi, doanh nghiệp chủ động liên kết và người dân minh bạch hơn về sản phẩm.

Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, ông Đỗ Hữu Huy yêu cầu các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã tập trung rà soát, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Ảnh: Nhật Tiến.
Ông Nguyễn Quang Tin, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đánh giá Đắk Lắk là một trong những địa phương đi đầu trong xây dựng cơ sở dữ liệu và đã bước đầu kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc.
“Khi dữ liệu được liên thông từ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến các cấp quản lý, việc cấp mã không chỉ dừng ở một thủ tục hành chính mà trở thành nền tảng để quản lý, khai thác và phát triển nông sản chính xác, minh bạch, kịp thời”, ông Tín khẳng định.
Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, ông Đỗ Hữu Huy cho biết, “30 ngày đêm” là chiến dịch cấp bách, nhất là khi sầu riêng đang bước vào vụ thu hoạch và thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc. Ông yêu cầu các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã tập trung rà soát, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; đặc biệt, người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng thực hiện. Theo ông, đây không chỉ là nhiệm vụ trước mắt để phục vụ xuất khẩu sầu riêng mà còn là bước tạo nền tảng dữ liệu, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao giá trị nông sản Đắk Lắk trong dài hạn.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
