Ngày 25/9, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai tổ chức tọa đàm “Liên kết doanh nghiệp, HTX và người sản xuất trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói”.
Gắn mã số với vùng nguyên liệu
Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói ngày càng gắn chặt với tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu nông sản. Trong bối cảnh Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ được ban hành, yêu cầu đặt ra không chỉ là thực hiện đúng thủ tục đăng ký, cấp mã mà còn phải tổ chức sản xuất, ghi chép, quản lý hồ sơ và duy trì các điều kiện của mã số một cách thường xuyên, thực chất.

Tọa đàm “Liên kết doanh nghiệp, HTX và người sản xuất trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói” tổ chức sáng 25/9 tại Gia Lai. Ảnh: Tuấn Anh.
Gia Lai là một trong những tỉnh trọng điểm được lựa chọn triển khai sớm cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Tính đến ngày 15/9/2026, toàn tỉnh có 57/61 xã, phường ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo triển khai, 42 xã, phường thành lập tổ công tác. Toàn tỉnh đã rà soát, thu thập dữ liệu 7.350 ha cà phê của 5.205 hộ và gần 970 ha sầu riêng của 712 hộ để phục vụ cấp mã số vùng trồng.
Ông Kiều Văn Cang, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai cho biết, thời gian qua, tỉnh xác định việc thiết lập, cấp, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Đến nay, toàn tỉnh đã được cấp, phê duyệt 381 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 12.666 ha, 60 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu, công suất từ 3.570 – 3.840 tấn/ngày. Sau khi Nghị quyết số 36 được ban hành, các xã, phường đã cấp 43 mã số vùng trồng với diện tích 144 ha và 1 mã số cơ sở đóng gói.

Mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để nông sản tiếp cận thị trường xuất khẩu. Ảnh: Tuấn Anh.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn không ít khó khăn. Theo ông Cang, địa bàn tỉnh rộng, số lượng mã số ngày càng tăng trong khi nhân lực quản lý, kiểm tra, giám sát tại cơ sở còn hạn chế. Sản xuất nông nghiệp vẫn nhỏ lẻ, phân tán, liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp một số nơi chưa bền vững. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận công nghệ, cập nhật và duy trì dữ liệu của một bộ phận người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế.
Thời gian tới, Gia Lai tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn người dân, HTX và doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh những trường hợp không bảo đảm điều kiện duy trì mã số.
Tỉnh cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc. Việc cấp và duy trì mã số sẽ gắn với tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu và phát triển chuỗi liên kết ổn định, nhất là các ngành hàng chủ lực như sầu riêng, cà phê, chanh leo, qua đó nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Gia Lai.
Mã số vùng trồng cần trách nhiệm cả chuỗi
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Hoàng Linh, Giám đốc vùng trồng, Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Hưng Sơn cho biết, từ diện tích ban đầu khoảng 100 ha, qua quá trình đầu tư, mở rộng và hoàn thiện quy trình sản xuất, đến nay Công ty đã phát triển vùng nguyên liệu lên khoảng 400 ha chuối xuất khẩu đạt tiêu chuẩn.

Chanh leo là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh Gia Lai. Ảnh: Tuấn Anh.
Cùng với mở rộng diện tích, Công ty từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đến nay, toàn bộ vùng nguyên liệu của Công ty đã được đăng ký và cấp 7 mã số vùng trồng, đồng thời Công ty được cấp 3 mã số cơ sở đóng gói.
“Đối với chúng tôi, quá trình từ 100 ha lên 400 ha không đơn thuần là mở rộng diện tích. Điều quan trọng hơn là mở rộng nhưng vẫn duy trì được tính đồng bộ của quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu”, ông Linh chia sẻ.
Ông Lê Văn Thanh, Giám đốc HTX Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông (xã Ia Ly) cho biết, HTX hiện có 600 thành viên và hộ dân liên kết với khoảng 800 ha chanh leo, sầu riêng và cà phê. HTX đã được cấp 6 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Thông qua liên kết với doanh nghiệp có nhà máy chế biến, xuất khẩu, HTX tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, góp phần tạo đầu ra ổn định cho thành viên.
“Việc xây dựng mã số vùng trồng là quá trình nỗ lực của cả HTX và người dân. Tuy nhiên, để duy trì mã số, HTX phải thường xuyên kiểm soát chất lượng, tuân thủ quy trình sản xuất và hồ sơ truy xuất. Chỉ cần xảy ra vi phạm về dư lượng hoặc hồ sơ không bảo đảm, mã số có thể bị cảnh báo, thậm chí thu hồi, ảnh hưởng đến đầu ra và đơn hàng của cả vùng”, ông Thanh chia sẻ.

Ông Lê Quốc Thanh cho rằng, xây dựng mã số vùng trồng mới chỉ là bước đầu, quan trọng hơn là quản lý, duy trì hiệu quả. Ảnh: Tuấn Anh.
Theo ông Thanh, HTX xác định duy trì mã số và kiểm soát chất lượng là công việc thường xuyên, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa HTX, người dân và doanh nghiệp, không thể chủ quan hay làm theo thời điểm.
Phát biểu tại tọa đàm, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, xây dựng mã số vùng trồng mới chỉ là bước đầu, quan trọng hơn là quản lý, duy trì mã số và đưa các yêu cầu này vào thực tế sản xuất của người dân.
Theo ông Thanh, để làm được điều đó cần tập trung vào hai yếu tố là con người và công nghệ số. Các bên cần nâng cao năng lực, hiểu và làm chủ công nghệ, đồng thời nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến mã số vùng trồng.
Hệ thống khuyến nông cần được tăng cường năng lực, làm chủ công nghệ và quy trình xây dựng, quản lý mã số vùng trồng. Người dân cũng phải nâng cao năng lực sản xuất, bởi muốn sản phẩm có giá trị và bán được với giá tốt thì chính người sản xuất phải tạo ra giá trị trong từng sản phẩm.
“Chúng tôi mong muốn HTX, cơ quan quản lý và người dân xác định rõ trách nhiệm của mình, cùng nỗ lực hạn chế rủi ro, tìm những giải pháp thiết thực để quản lý tốt mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói”, ông Thanh chia sẻ.
Tại tọa đàm, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cùng các doanh nghiệp, HTX và người sản xuất đã ký cam kết trong xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu, liên kết đa bên kiến tạo nông nghiệp sinh thái vì tương lai bền vững.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
