Phúc lợi động vật ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong quản trị chăn nuôi, thú y, an toàn thực phẩm, nghiên cứu khoa học và phát triển nông nghiệp bền vững. Theo cách tiếp cận hiện đại, phúc lợi động vật không chỉ dừng ở việc không đánh đập, hành hạ mà còn bao gồm sức khỏe, dinh dưỡng, điều kiện sống, khả năng thể hiện hành vi tự nhiên và trạng thái tinh thần của động vật.

TS. Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam (VFAEA) trao đổi về những khoảng trống trong chính sách phúc lợi động vật tại Việt Nam. Ảnh: Kiều Chi.
Tại Hội thảo “Phúc lợi động vật – Đề xuất thể chế, chính sách và thực thi”, TS. Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam (VFAEA), cho rằng Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc đưa yêu cầu đối xử nhân đạo với động vật vào pháp luật. Tuy nhiên, để hình thành một hệ thống quản trị phúc lợi động vật có thể đo lường, kiểm tra và giám sát, vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Đã có nền tảng pháp lý nhưng còn thiếu tiêu chí cụ thể
Luật Thú y năm 2015 và Luật Chăn nuôi năm 2018 là hai nền tảng pháp lý quan trọng đối với phúc lợi động vật tại Việt Nam. Điều 21 Luật Thú y quy định trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và vận chuyển phù hợp với từng loài; giảm thiểu đau đớn, sợ hãi và đối xử nhân đạo với động vật trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển, giết mổ, tiêu hủy, phòng, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học.
Luật Chăn nuôi tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này khi dành riêng một mục về đối xử nhân đạo với vật nuôi. Các quy định bao quát từ điều kiện chuồng trại, thức ăn, nước uống, chăm sóc sức khỏe đến vận chuyển và giết mổ. Trong đó, cơ sở giết mổ phải hạn chế sợ hãi, đau đớn, thực hiện gây ngất trước khi giết và không để vật nuôi chứng kiến đồng loại bị giết.
Theo TS. Hạ Thúy Hạnh, đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý. Nếu trước đây chính sách chăn nuôi chủ yếu tập trung vào dịch bệnh, năng suất, an toàn thực phẩm và hiệu quả sản xuất, thì trạng thái của động vật đã bắt đầu trở thành một nội dung được pháp luật quan tâm.
Tuy nhiên, nhiều quy định hiện vẫn mang tính nguyên tắc. Những yêu cầu như “đối xử nhân đạo”, “giảm thiểu đau đớn”, “giảm thiểu sợ hãi” hay “phù hợp với từng loài” cần được cụ thể hóa bằng tiêu chí kỹ thuật, chỉ số đánh giá và phương pháp kiểm tra.
Điều này cũng cho thấy yêu cầu phải chuyển dần từ cách quản lý dựa trên đầu vào sang đánh giá kết quả thực tế trên động vật. Thay vì chỉ quy định chuồng nuôi phải đủ diện tích, cần đánh giá liệu vật nuôi có thể đứng, nằm, di chuyển và thực hiện hành vi bình thường hay không. Với vận chuyển, không chỉ cần phương tiện thông thoáng mà còn phải xem xét tỷ lệ thương tích, tỷ lệ chết, tình trạng mất nước, stress, nhiệt độ, mật độ và thời gian vận chuyển.
Khoảng trống lớn nằm ở tính thống nhất và khả năng thực thi
Một trong những vấn đề đáng chú ý là các quy định về phúc lợi động vật hiện nằm rải rác trong nhiều lĩnh vực như thú y, chăn nuôi, lâm nghiệp, động vật hoang dã, khoa học – công nghệ, an toàn thực phẩm và xử lý vi phạm. Vì vậy, phúc lợi động vật chưa được quản trị như một lĩnh vực chính sách thống nhất và có tính liên ngành.
Ngay khái niệm “phúc lợi động vật” cũng chưa được quy định đầy đủ ở cấp luật. Hệ thống hiện hành sử dụng nhiều thuật ngữ như đối xử nhân đạo, chăm sóc, nuôi dưỡng, giảm đau đớn hay giảm sợ hãi nhưng chưa hình thành một định nghĩa pháp lý thống nhất theo cách tiếp cận khoa học hiện đại.
TS. Hạ Thúy Hạnh đề xuất cần nghiên cứu xác lập khái niệm phúc lợi động vật theo hướng bao quát cả trạng thái thể chất và tinh thần, gắn với điều kiện sống, sử dụng, chăm sóc, vận chuyển và chết của động vật; đồng thời việc đánh giá phải dựa trên bằng chứng khoa học và đặc điểm sinh học của từng loài.
Khoảng trống này càng rõ khi đi vào từng nhóm vật nuôi. Với lợn, gà thịt, gà đẻ hay bò sữa, Việt Nam đã có các quy định chung nhưng còn thiếu hệ thống tiêu chí chi tiết theo từng loài, từng giai đoạn nuôi và phương thức sản xuất. Những vấn đề như mật độ, chuồng trại, ánh sáng, khả năng thể hiện hành vi tự nhiên hay tiêu chí đánh giá trạng thái vật nuôi vẫn cần tiếp tục chuẩn hóa.
Song, ở chiều tích cực, Việt Nam đã bắt đầu xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên biệt. TCVN 13904-1:2023 quy định về phúc lợi trong vận chuyển trâu, bò; TCVN 13905-1:2023 về giết mổ gia súc và TCVN 14264-1:2024 về chăn nuôi trâu, bò. Các tiêu chuẩn đã đi sâu hơn vào thiết kế chuồng, nền chuồng, thông thoáng, nhiệt độ, ánh sáng, an toàn, vệ sinh và nguy cơ gây thương tích.
Tuy vậy, tiêu chuẩn chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm cơ chế kiểm tra và dữ liệu. Theo đó, Việt Nam hiện chưa có hệ thống thống kê quốc gia đầy đủ về tỷ lệ trang trại đạt chuẩn phúc lợi động vật, tỷ lệ vật nuôi bị thương hoặc chết trong vận chuyển, hiệu quả gây ngất tại cơ sở giết mổ, số cơ sở được chứng nhận phúc lợi hay mức độ áp dụng nguyên tắc 3Rs trong nghiên cứu khoa học.
Thiếu dữ liệu đồng nghĩa với việc rất khó đánh giá chính sách đang được thực thi đến đâu, lĩnh vực nào còn yếu và cần điều chỉnh ở khâu nào. Vì vậy, TS. Hạ Thúy Hạnh cho rằng cần nghiên cứu hình thành hệ thống thông tin quốc gia về phúc lợi động vật, tạo cơ sở cho thống kê, giám sát và hoạch định chính sách.

Gà nuôi theo tiêu chuẩn phúc lợi động vật của Vĩnh Thành Đạt. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Phúc lợi động vật không chỉ là câu chuyện của trang trại
Phúc lợi động vật không chỉ đặt ra đối với gia súc, gia cầm trong hoạt động chăn nuôi, mà còn liên quan đến nhiều nhóm động vật khác và các mục đích sử dụng khác nhau. Từ chó, mèo và các loài động vật cảnh đến động vật sử dụng trong nghiên cứu, giáo dục, du lịch, giải trí, động vật hoang dã bị nuôi nhốt hay động vật thủy sản đều đặt ra những yêu cầu riêng về chăm sóc, quản lý và bảo đảm phúc lợi. Vì vậy, việc xây dựng chính sách cần được tiếp cận trên phạm vi rộng hơn, thay vì chỉ giới hạn trong lĩnh vực chăn nuôi.
Riêng với thủy sản, theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2025 sản lượng thủ sản của Việt Nam ước đạt gần 9,95 triệu tấn, trong đó nuôi trồng hơn 6,1 triệu tấn. Quy mô này đặt ra yêu cầu phải xem xét đầy đủ hơn các vấn đề về mật độ nuôi, chất lượng nước, bắt, thu hoạch, vận chuyển, gây bất tỉnh và xử lý trước khi chết đối với cá, giáp xác và các nhóm thủy sản khác.
Trong đó, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cũng nhấn mạnh nguyên tắc 3Rs, gồm thay thế việc sử dụng động vật khi có thể, giảm số lượng động vật sử dụng và cải tiến phương pháp nhằm hạn chế đau đớn. Mặc dù Luật Chăn nuôi đã đề cập yêu cầu đối xử nhân đạo với vật nuôi sử dụng trong nghiên cứu, việc tổ chức hội đồng đạo đức, thống kê số lượng động vật và áp dụng 3Rs giữa các cơ sở vẫn cần được hoàn thiện.
Những vấn đề này cho thấy phúc lợi động vật không thể chỉ được giải quyết bằng một số quy định cấm hành hạ, mà cần được tiếp cận trong toàn bộ quá trình sống, sử dụng, vận chuyển và kết thúc vòng đời của động vật.
Cần một khung chính sách quốc gia
Theo TS. Hạ Thúy Hạnh, khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn chỉ có thể được thu hẹp khi các quy định được cụ thể hóa bằng tiêu chuẩn, chỉ số đánh giá, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm thực thi rõ ràng. Những yêu cầu như gây ngất trước khi giết mổ hay hạn chế chấn thương trong vận chuyển cần có tiêu chí đo lường cụ thể, thay vì chỉ dừng ở quy định mang tính nguyên tắc.
Trong thời gian tới, chính sách phúc lợi động vật cần được hoàn thiện trên các trụ cột về thể chế, tiêu chuẩn, giám sát, năng lực và thị trường; từng bước xây dựng bộ chỉ số, hệ thống chứng nhận phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời tham khảo Animal Protection Index để đánh giá và cải thiện chính sách.
TS. Hạ Thúy Hạnh kiến nghị trong quá trình sửa đổi pháp luật về chăn nuôi, thú y cần có một chương riêng về phúc lợi động vật, mở rộng tới động vật thủy sản và thú cảnh; làm rõ trách nhiệm thực thi, cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài xử lý vi phạm; tiếp tục hoàn thiện các TCVN phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Qua đó, phúc lợi động vật có thể trở thành một phần thực chất của quản trị chăn nuôi hiện đại và phát triển nông nghiệp có trách nhiệm.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
