Tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Hòa Phát, xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) phối hợp với các đơn vị vừa tổ chức chương trình trình diễn canh tác lúa chính xác trong hệ thống lúa – tôm.
Điểm nhấn của mô hình là công nghệ cơ giới hóa sạ hàng kết hợp vùi phân (mDSR-FDP), hướng tới giảm lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động, đồng thời nâng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

Các đại biểu dự chương trình trình diễn mô hình canh tác lúa chính xác trong hệ thống lúa – tôm. Ảnh: Trọng Linh.
Một lần vận hành, hai công đoạn
Với công nghệ mDSR-FDP, máy vừa gieo hạt theo hàng vừa đưa phân xuống đất trong cùng một lần vận hành.
Hạt giống được đặt ở độ sâu khoảng 1 – 2mm, trong khi phân bón được vùi sâu khoảng 3 – 5cm. Cách bố trí hàng rộng – hàng hẹp giúp cây lúa tiếp nhận ánh sáng và oxy tốt hơn. Việc đưa phân gần vùng rễ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.
Theo các chuyên gia, cơ giới hóa sạ hàng chính xác kết hợp vùi phân giúp giảm sử dụng phân hóa học, đồng thời giảm nấm bệnh và thuốc bảo vệ thực vật, qua đó hạn chế tác động tiêu cực đến hệ sinh thái lúa – tôm.
Kết quả từ các mô hình mDSR-FDP do IRRI và các đối tác triển khai tại nhiều địa phương ĐBSCL cho thấy công nghệ có thể giảm lượng giống tới 45%, giảm lượng phân đạm tới 30% và giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Tại một số mô hình, năng suất tăng tới 12%, lợi nhuận ròng tăng khoảng 20 – 25% so với đối chứng. Tuy nhiên, đây là kết quả từ các mô hình sản xuất lúa nói chung và cần tiếp tục đánh giá, điều chỉnh khi áp dụng trong điều kiện đặc thù của hệ thống lúa – tôm.

TS Madonna Casimero, chuyên gia IRRI chia sẻ tại buổi trình diễn. Ảnh: Trọng Linh.
TS Madonna Casimero, chuyên gia IRRI cho rằng nhân rộng sản xuất lúa – tôm không nên được hiểu là nhân rộng một công nghệ đơn lẻ. Điều quan trọng là xây dựng cách tiếp cận hệ thống, trong đó khoa học, điều kiện sinh thái, tổ chức sản xuất và thị trường được xem xét cùng nhau. Các giải pháp cần được thử nghiệm, điều chỉnh theo từng bối cảnh cụ thể.
Quản lý sản xuất bằng dữ liệu
Cùng với cơ giới hóa, IRRI và các đối tác đang phát triển các công cụ dữ liệu nhằm hỗ trợ quản lý sản xuất chính xác hơn. Các giải pháp được giới thiệu gồm bản đồ thích nghi lúa – tôm, dữ liệu viễn thám, dự báo nguồn nước, CS-MAP, cảnh báo xâm nhập mặn và WebGIS quản lý rủi ro khí hậu.
Bản đồ đất – dinh dưỡng được xây dựng từ dữ liệu về loại đất, hiện trạng sử dụng đất, địa hình, nhiệt độ, lượng mưa và dinh dưỡng đất, kết hợp học máy để phân tích và tổng hợp thông tin.
Các công cụ như Rice Crop Manager (RCM) hỗ trợ quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt. Cảm biến nước theo thời gian thực, trợ lý AI và khuyến nông số hỗ trợ người sản xuất tiếp cận thông tin và đưa ra quyết định phù hợp hơn trên đồng ruộng.
Đối với hệ thống lúa – tôm, việc đưa dữ liệu vào quản lý có ý nghĩa đặc biệt khi điều kiện sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào diễn biến mặn – ngọt, thời tiết và nguồn nước.

Cùng với cơ giới hóa, IRRI và các đối tác đang phát triển các công cụ dữ liệu nhằm hỗ trợ quản lý sản xuất chính xác hơn. Ảnh: Trọng Linh.
Theo phân tích của ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia IRRI, dinh dưỡng và thời điểm xuống giống chiếm khoảng 66% tổng mức độ quan trọng của các yếu tố kỹ thuật được phân tích liên quan đến chênh lệch năng suất. Trong đó, dinh dưỡng chiếm 37%, thời vụ khoảng 29%.
Vì vậy, quản lý nước, thời vụ và dinh dưỡng dựa trên dữ liệu được xem là một trong những hướng quan trọng để nâng hiệu quả sản xuất.
Không chỉ hỗ trợ kỹ thuật trên đồng ruộng, công nghệ số còn được hướng tới kết nối các tác nhân trong chuỗi giá trị. Nền tảng EasyFarm được phát triển theo hướng kết nối nông dân với các dịch vụ cơ giới, quản lý ruộng, tiếp cận vật tư và người mua. Qua đó, nền tảng có thể hỗ trợ cả quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa, rơm cùng các sản phẩm nông nghiệp khác.
Theo ông Võ Đức Toàn, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Hòa Phát (xã Hồng Dân), nông dân quan tâm nhất là giải pháp mới có giúp giảm giống, giảm phân, giảm công lao động và hạn chế rủi ro hay không.
Tuy nhiên, để một kỹ thuật tốt được duy trì lâu dài, HTX cần có dịch vụ cơ giới phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên và doanh nghiệp đồng hành trong tiêu thụ. Khi các khâu được kết nối, nông dân mới có thể yên tâm áp dụng và nâng giá trị sản phẩm lúa – tôm.
Công nghệ phải đi cùng tổ chức sản xuất
Từ thực tế triển khai, các chuyên gia cho rằng bước phát triển tiếp theo của mô hình canh tác lúa – tôm không chỉ là đưa một công nghệ mới vào đồng ruộng mà phải hình thành hệ thống giải pháp có thể kiểm chứng, chuẩn hóa và nhân rộng phù hợp với từng vùng sinh thái.

Ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia IRRI cho rằng, dinh dưỡng và thời điểm xuống giống chiếm khoảng 66% tổng mức độ quan trọng của các yếu tố kỹ thuật được phân tích liên quan đến chênh lệch năng suất. Ảnh: Trọng Linh.
Các giải pháp cần được thiết kế theo tiểu vùng, thử nghiệm đồng bộ về nước, giống, tôm, cơ giới hóa, dinh dưỡng và dữ liệu, sau đó đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội và khả năng nhân rộng.
Trong quá trình này, cơ quan quản lý giữ vai trò điều phối, xây dựng tiêu chí và định hướng kỹ thuật; địa phương và HTX tổ chức vùng sản xuất, vận hành và cung cấp dữ liệu thực địa. Doanh nghiệp tham gia từ đầu vào, chế biến đến thương mại và phản hồi thị trường. Viện, trường và tổ chức quốc tế hỗ trợ nghiên cứu, công nghệ, chuẩn hóa và đánh giá.
Điểm quan trọng là công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với điều kiện thực tế của vùng lúa – tôm. Không thể tách rời cơ giới hóa khỏi quản lý nước, dinh dưỡng, thời vụ, tổ chức HTX và thị trường.
Từ mô hình trình diễn tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Hòa Phát, hướng tiếp cận được đặt ra là kết nối khoa học – công nghệ – HTX – doanh nghiệp – nông dân, qua đó từng bước chuẩn hóa các giải pháp phù hợp với hệ sinh thái mặn – ngọt.
Nếu thực hiện tốt, những công nghệ từ sạ hàng, vùi phân đến dữ liệu, cảm biến, AI và nền tảng số không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần nâng chất lượng, khả năng truy xuất và giá trị của sản phẩm của mô hình lúa – tôm Cà Mau.
Chương trình có sự tham dự của TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ NN-PTNT; ông Trần Thanh Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đại diện các cơ quan chuyên môn, tỉnh Cà Mau và một số địa phương ĐBSCL; các nhà khoa học, chuyên gia của IRRI, VIETRISA, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, HTX và gần 100 đại biểu nông dân.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
