Vĩnh Long hiện có 122.870 ha dừa, chiếm hơn 50% diện tích dừa cả nước. Không chỉ cung cấp trái và các sản phẩm chế biến như nước dừa, dầu dừa, cơm dừa, xơ dừa, cây dừa còn tạo sinh kế cho nhiều thế hệ nông dân Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải ngày càng được chú trọng, dừa được nhìn nhận thêm ở vai trò là nguồn tích lũy các-bon tự nhiên trong quá trình sinh trưởng.

Vĩnh Long là vùng trồng dừa lớn nhất cả nước, với những vườn dừa trải rộng tạo sinh kế cho người dân. Ảnh: Hồ Thảo.
Nền tảng từ vùng hữu cơ
PGS.TS Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ), cho biết ông cùng cộng sự thực hiện đề tài ước lượng khả năng hấp thụ CO₂ của cây dừa qua sinh khối tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trước đây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Long. Nhóm lấy mẫu ở 4 ô tiêu chuẩn, gồm hai nhóm giống dừa cao và dừa thấp, ở hai cấp tuổi 4 năm và 10 năm.
Ở tuổi 4, lượng CO₂ tích lũy của dừa cao đạt khoảng 24,518 tấn/ha, dừa thấp khoảng 20,4583 tấn/ha. Đến năm thứ 10, con số lên 75,2436 tấn CO₂ /ha với dừa cao và 69,9189 tấn/ha với dừa thấp, gấp hơn 3 lần so với tuổi 4.
“Mối tương quan giữa đường kính trung bình ngang ngực và sinh khối khô của cây đạt mức cao, với hệ số tương quan từ 0,834 đến 0,979. Đây là cơ sở để sử dụng đường kính thân cây làm chỉ tiêu ước tính nhanh khả năng hấp thụ CO₂ mà không cần chặt hạ cây để đo trực tiếp”, ông Tuấn cho hay. Theo ông, kết quả cho phép nhìn vườn dừa như một hệ thống lưu giữ các-bon có thể định lượng, thay vì chỉ là cây trồng tạo ra sản phẩm nông nghiệp.
Một nghiên cứu khác của Magat năm 2009 tại Philippines ghi nhận cây dừa hấp thụ khoảng 24,1 tấn CO₂/ha/năm. Tuy nhiên, để tham gia các chương trình liên quan đến các-bon, ngành dừa phải xây dựng hệ thống dữ liệu sản xuất.
Theo chuyên gia, dấu chân các-bon (CFP), hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) và truy xuất nguồn gốc là ba yếu tố để đánh giá, chứng minh giá trị môi trường của vùng trồng. Dữ liệu có thể bắt đầu từ việc đơn giản: ghi nhật ký canh tác, theo dõi lượng phân bón, nước tưới, sản lượng thu hoạch, phụ phẩm và các yếu tố đầu vào. Có đủ dữ liệu, hợp tác xã và người dân quản lý sản xuất chủ động hơn, dễ tham gia chứng nhận, liên kết chuỗi giá trị và các sáng kiến giảm phát thải.

Nông dân thực hiện quy trình sản xuất dừa hữu cơ theo các tiêu chuẩn của châu Âu. Ảnh: Hồ Thảo.
Tại xã Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long, Hợp tác xã (HTX) Vạn Hưng đang làm theo hướng này. HTX có khoảng 3.500 ha dừa đạt chứng nhận hữu cơ châu Âu, liên kết với khoảng 4.500 hộ dân. Các hộ thành viên được hướng dẫn quy trình chăm sóc, ghi nhật ký sản xuất, quản lý đầu vào và tận dụng phụ phẩm theo hướng tuần hoàn.
Duy trì chứng nhận hữu cơ không rẻ. Theo HTX Vạn Hưng, mỗi năm cần khoảng 3 tỷ đồng cho công tác đánh giá, kiểm tra và quản lý quy trình sản xuất, tính bình quân khoảng 857.000 đồng/ha. Đổi lại, vùng nguyên liệu được kiểm soát chặt hơn về quy trình canh tác, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Về sản lượng, năng suất bình quân của HTX khoảng 1,4 tấn dừa/ha/tháng. Với 3.500 ha, sản lượng ước đạt 4.900 tấn/tháng, tương đương khoảng 58.800 tấn/năm.
Ông Ngô Hữu Sự, Giám đốc HTX Vạn Hưng, cho biết trước đây người dân chủ yếu quan tâm đến năng suất và giá bán trái dừa. Khi chuyển sang sản xuất hữu cơ, việc kiểm soát quy trình canh tác, quản lý phụ phẩm và lưu trữ thông tin sản xuất được chú trọng hơn.
“Chúng tôi không chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp mà còn cần chứng minh được quy trình sản xuất và giá trị môi trường của vùng nguyên liệu”, ông Sự nói.
Hiện sản phẩm của HTX chủ yếu tiêu thụ trong nước, theo ông Sự. Tuy nhiên, HTX sẵn sàng tham gia các chương trình, chuỗi liên kết mới liên quan đến thị trường carbon khi có đối tác phù hợp, quy trình thực hiện minh bạch và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Tín hiệu khả quan
Mới đây, UBND tỉnh Vĩnh Long làm việc với Công ty Jizoku Inc và Công ty Điện lực Kansai (Nhật Bản) về đề xuất nghiên cứu phát triển dự án tín chỉ các-bon quy mô khoảng 100.000 ha dừa, theo Cơ chế tín chỉ chung (JCM) giữa Việt Nam và Nhật Bản. Theo đề xuất, các bên sẽ nghiên cứu đánh giá điều kiện thổ nhưỡng, ứng dụng viễn thám, dữ liệu vệ tinh và trí tuệ nhân tạo để theo dõi phát thải, đánh giá khả năng lưu giữ các-bon của vùng trồng.

Doanh nghiệp Nhật Bản đề xuất nghiên cứu vùng dừa khoảng 100.000 ha phục vụ phát triển tín chỉ các-bon. Ảnh: Hồ Thảo.
Ông Nguyễn Quỳnh Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, cho biết đây mới là đề xuất nghiên cứu, chưa phải dự án triển khai chính thức. Nhưng cây dừa đang được nhìn nhận ở góc độ mới: vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa có tiềm năng đóng góp vào quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp xanh.
Tuy nhiên, việc hợp tác phát triển thị trường các-bon cần bảo đảm minh bạch, tuân thủ pháp luật Việt Nam, phù hợp cam kết giảm phát thải quốc gia, đồng thời hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối, phối hợp các sở, ngành nghiên cứu toàn diện đề xuất, từ mục tiêu, quy mô, phạm vi, lộ trình, nguồn lực đầu tư đến yêu cầu kỹ thuật và cơ chế thực hiện.
Vĩnh Long hiện có 30.708,3 ha dừa được chứng nhận hữu cơ, sản lượng trung bình khoảng 337,8 triệu trái/năm. Với dừa tươi xuất khẩu sang Trung Quốc, tỉnh có 187 mã số vùng trồng, diện tích 19.439,79 ha, cùng 24 mã số cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
