Hội nghị tham vấn, kiến nghị giải pháp cho các vướng mắc liên quan chọn tạo và sản xuất kinh doanh giống cây trồng được quy định trong Luật Trồng trọt do Hiệp hội thương mại giống cây trồng Việt nam phối hợp cùng CropLife Việt Nam, Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức vừa qua đã ghi nhận nhiều ý kiến đóng góp.

Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam (VSTA) phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Tùng Đinh.
Những hạn chế hiện tại
Đặt vấn đề tại hội nghị, ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam (VSTA) cho rằng, hạn chế đầu tiên là quản lý giống cây trồng chỉ là một chương trong Luật Trồng trọt, trong khi đa phần các nước đều có luật riêng về giống.
Thứ hai, các quy định hiện nay còn phân tán, nhiều cách hiểu, nhiều cách giải thích nên muốn tuân thủ phải nghiên cứu nhiều luật, nghị định và thông tư liên quan.
Trong khi đó, quản lý được đánh giá là còn thiên về thủ tục hành chính, nhiều công đoạn.
Vì vậy, Phó Chủ tịch VSTA cho rằng luật hiện nay chưa tạo hành lang pháp lý đầy đủ để phát triển đầy đủ thị trường hạt giống, và đặc biệt chúng ta chưa có chính sách để phát triển ngành công nghiệp hạt giống.
Cụ thể hơn, ông Trần Xuân Định cho rằng, quy định và khái niệm về khảo nghiệm VCU (giá trị canh tác và sử dụng) hiện không phù hợp, bất khả thi với các cây trồng ngắn ngày như rau màu: Các nhóm cây trồng giúp nông dân luân canh, xen canh, tăng vụ mang lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian gieo trồng ngắn, nhất là các tiến bộ về giống với việc áp dụng công nghệ chọn tạo mới thì ra đời rất nhanh và thay đổi theo thị hiếu tiêu dùng.
Việc phải thực hiện khảo nghiệm theo quy định (Luật Trồng trọt), cụ thể trong các TCVN về khảo nghiệm VCU lại phải tuân thủ “khảo nghiệm hẹp, khảo nghiệm rộng, khảo nghiệm có kiểm soát” để có được giá trị canh tác và giá trị sử dụng là không cần thiết và không cần phải làm như vậy mới có được thông tin các đặc điểm nông học của giống.

Quy định về xuất nhập khẩu giống cây trồng bố mẹ để sản xuất hạt lai cũng đang có mâu thuẫn. Ảnh: Tùng Đinh.
Quy định về xuất nhập khẩu giống cây trồng bố mẹ để sản xuất hạt lai cũng đang có mâu thuẫn.
Quy định thời hạn lưu hành làm phức tạp thêm cho quá trình quản lý, vì có thời hạn nên khi hết phải gia hạn lưu hành làm tốn kém chi phí tuân thủ, làm các đánh giá khảo nghiệm bổ sung, và cũng không có nước nào trên thế giới và trong khu vực có quy định này (nông dân là người quyết định có sử dụng giống đó để gieo trồng hay không và doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh được khi còn đủ số lượng nông dân cần).
Chưa kể, quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đăng ký cấp quyết định lưu hành và gia hạn lưu hành… bị nhầm lẫn với “quyền sở hữu trí tuệ” về giống, trường hợp đối với giống không bảo hộ và giống hình thành bằng ngân sách nhà nước.
Liên quan đến Thông tư ban hành danh mục cây trồng chính, đại diện VSTA cho rằng nhóm ngô nếp, ngô ngọt, ngô rau vốn là cây ngắn ngày, tăng vụ nhưng vẫn nằm trong nhóm cây trồng chính, phải khảo nghiệm đến 3 vụ gây tốn chi phí, mất cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, hiệp hội rất mong muốn làm rõ quy định về đặt tên giống, không thể chấp nhận việc tên giống trùng với tên đã được bảo hộ. Hiện nay, tên đăng ký lưu hành không bảo hộ có thể nhiều công ty dùng một giống nhưng mẫu mã, nhãn mác khác nhau. Đặc biệt với giống rau, đang có tình trạng chung một giống nhưng mỗi doanh nghiệp đặt một tên khác nhau.

GS. VS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam phát biểu. Ảnh: Tùng Đinh.
Cần thông thoáng, khả thi hơn
Về kiến nghị sửa đổi, các ý kiến tại hội nghị đa phần mong muốn luật nên có hướng tiếp cận thông thoáng, khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. Các đại biểu đã đạt sự đồng thuận rất cao trên 7 nhóm nội dung cốt lõi.
Một là, tất cả các bên gồm khối nghiên cứu, doanh nghiệp, hiệp hội đều thống nhất kiến nghị bỏ hoàn toàn quy định về thời hạn lưu hành giống. Lý do là giống cây trồng đã qua khảo nghiệm DUS, VCU và công nhận lưu hành thì việc tồn tại bao lâu trên thị trường nên do người sản xuất và thị trường quyết định.
Giống không còn ưu việt sẽ tự bị đào thải, việc bắt buộc làm thủ tục gia hạn sau mỗi 10-20 năm gây tốn kém, phiền hà và làm chậm cơ hội đưa giống tiến bộ vào sản xuất.
Hai là, chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, các đại biểu nhất trí Nhà nước nên chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, thí điểm và đi đến tin tưởng giao quyền cho các doanh nghiệp, viện nghiên cứu uy tín, đủ điều kiện, tự công bố và chịu trách nhiệm.
Doanh nghiệp khi công bố sản phẩm phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng. Đồng thời, Nhà nước cần áp dụng chế tài xử phạt thật nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm chất lượng cũng như cơ quan quản lý buông lỏng.
Ba là, thống nhất kiến nghị đưa cây ngô ra khỏi danh mục cây trồng chính để chuyển sang cơ chế tự công bố và hậu kiểm, hoặc xếp các loại ngô nếp, ngô đường, ngô sinh khối, ngô rau vào nhóm ngô thực phẩm/ngô rau.
Lý do, diện tích trồng ngô chăn nuôi cả nước hiện đã giảm mạnh (chỉ còn khoảng 500.000 – 600.000 ha) và không có lợi thế cạnh tranh với ngô hạt nhập khẩu giá rẻ. Việc bắt buộc khảo nghiệm VCU, DUS phức tạp 7 vùng sinh thái tốn kém hơn 800 triệu đồng cho một giống ngô là không cần thiết và gây lãng phí lớn.
Thứ tư, các hiệp hội, các nhà khoa học tại hội nghị đồng tình không chia thành 7 vùng sinh thái phức tạp để khảo nghiệm, mà chỉ phân làm 2 vùng khảo nghiệm chính: Phía Bắc (Á nhiệt đới – từ đèo Hải Vân ra) và Phía Nam (Nhiệt đới điển hình – từ đèo Hải Vân vào).
Hiện nay, yêu cầu khảo nghiệm lúa ở 3 vùng sinh thái riêng tại phía Bắc tốn khoảng 400 triệu đồng nhưng kết quả giữa các vùng không có nhiều khác biệt, gây lãng phí chi phí và thời gian của các viện, doanh nghiệp.

Các nhà khoa học kiến nghị sớm tháo gỡ pháp lý cho công nghệ chỉnh sửa gen (Gene Editing). Ảnh: Tùng Đinh.
Thứ năm, sớm tháo gỡ pháp lý cho công nghệ chỉnh sửa gen (Gene Editing). Cụ thể là, cần sớm luật hóa hoặc ban hành hướng dẫn rõ ràng về cây trồng chỉnh sửa gen trong Luật Trồng trọt.
Quan điểm các đại biểu đưa ra là nếu cây trồng chỉnh sửa gen không chứa ADN ngoại lai (không có gen lạ) thì được lưu hành và quản lý như cây trồng đột biến/quy tụ gen thông thường, không coi là sinh vật biến đổi gen (GMO).
Điều này giúp Việt Nam hội nhập kịp thời với xu hướng quốc tế (Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Đông Nam Á) và giải quyết tận gốc vướng mắc với cơ quan quản lý đa dạng sinh học.
Thứ sáu, khi chuyển dịch sang cơ chế hậu kiểm, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường bắt buộc phải xây dựng và vận hành một hệ thống dữ liệu (Platform) công khai, độc lập và thống nhất toàn quốc.
Nền tảng dữ liệu chung sẽ giúp các doanh nghiệp truy xuất, so sánh chỉ tiêu DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định) và tên giống trước khi đưa ra thị trường để tránh trùng lặp, đồng thời làm căn cứ chuẩn xác để cơ quan nhà nước đóng vai trò trọng tài khi xảy ra tranh chấp bản quyền hay xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ bảy, cần hiện đại hóa quy định về xuất nhập khẩu và gia công hạt giống cụ thể là sửa đổi, đồng bộ các quy định về xuất nhập khẩu dòng bố mẹ, tạm nhập tái xuất và gia công hạt giống quốc tế, đặc biệt là những nội dung còn chưa thống nhất giữa Điều 13, Điều 28 và Điều 29 của Luật Trồng trọt. Khung pháp lý hiện hành chủ yếu được xây dựng cho mô hình nhập khẩu và sản xuất hạt lai phục vụ canh tác trong nước; do đó, chưa bao quát đầy đủ các phương thức sản xuất, nhân giống, sơ chế, đóng gói và gia công để xuất khẩu.
Khi định hướng phát triển chuyển sang xây dựng Việt Nam thành trung tâm sản xuất và gia công hạt giống (seed-hub), quy định cũng cần thay đổi tương ứng, đủ linh hoạt để đáp ứng các mô hình sản xuất khác nhau.
Pháp luật cần phân biệt nguồn gen bản địa cần bảo vệ với nguồn gen quốc tế được nhập khẩu hợp pháp; đồng thời tạo thuận lợi cho việc nhập dòng bố mẹ, tạm nhập hạt giống thô, sản xuất theo hợp đồng, sơ chế, đóng gói, tái xuất hoặc xuất khẩu sang nước thứ ba. Cách tiếp cận này sẽ mở rộng không gian phát triển công nghiệp hạt giống và từng bước định vị Việt Nam trở thành trung tâm hạt giống của khu vực và thế giới.

PGS.TS, Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm, người cả đời gắn với sự nghiệp nghiên cứu giống lúa tham gia đóng góp ý kiến tại hội nghị. Ảnh: Tùng Đinh.
Những quan điểm khác
Bên cạnh những nội dung đạt đồng thuận cao, cuộc họp tư vấn ghi nhận một số nhóm vấn đề còn có góc nhìn riêng lẻ hoặc khác nhau giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý.
Thứ nhất, về bắt buộc khảo nghiệm DUS và VCU đối với cây trồng chính. Khối nghiên cứu cho rằng DUS vẫn cần thiết để xác định quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ giống và giải quyết tranh chấp bản quyền. Trong khi đó, doanh nghiệp và Hội Giống cây trồng Việt Nam kiến nghị bỏ hoàn toàn công nhận lưu hành bắt buộc, chuyển sang hậu kiểm, để doanh nghiệp tự khảo nghiệm, công bố và chịu trách nhiệm về sản phẩm.
Thứ hai, về cơ quan quản lý bảo hộ giống cây trồng. Doanh nghiệp đề xuất chuyển lĩnh vực này sang Bộ Khoa học và Công nghệ, cụ thể là Cục Sở hữu trí tuệ, để phù hợp thông lệ quốc tế và tăng hiệu quả xử lý vi phạm bản quyền. Tuy nhiên, cần thống nhất đầu mối trong chuỗi thực hiện từ khảo nghiệm DUS đến cấp bằng bảo hộ; giải quyết việc kết nối dữ liệu DUS hiện do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý.
Thứ ba, về xuất nhập khẩu dòng bố mẹ và gia công hạt giống quốc tế. Đại diện Syngenta và C.P đề xuất cho phép tạm nhập hạt giống thô để sơ chế, đóng gói rồi xuất sang nước thứ ba, và tạo điều kiện xuất khẩu dòng bố mẹ có nguồn gốc nước ngoài đã nhập về sản xuất trong nước phục vụ gia công quốc tế.
Thứ tư, cho phép sản xuất hạt giống tiền đăng ký, nhằm mục đích sẵn sàng mang giống đến tay bà con nông dân ngay sau khi được Cấp quyết định lưu hành. Các đơn vị sản xuất hạt giống phải tuyệt đối đảm bảo hạt giống này sẽ không kinh doanh và lưu thông trước khi được cấp Quyết định công nhận lưu hành.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
