Không thể mỗi hộ làm một cách
Nhận diện được nguy cơ và chỉ ra những tập quán canh tác cần điều chỉnh, câu hỏi còn lại với ngành sầu riêng là làm thế nào để biến những khuyến cáo kỹ thuật thành thay đổi thực tế trên vùng trồng? Đây là điều mà nhiều chuyên gia cho rằng sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của ngành hàng sầu riêng trong giai đoạn tới.

Trong nhiều năm, các vùng chuyên canh sầu riêng phát triển dựa khá nhiều vào kinh nghiệm sản xuất của từng hộ dân. Ảnh: Minh Đãm.
Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là tăng diện tích, tăng sản lượng và mở rộng thị trường thì hiện nay trọng tâm đang dịch chuyển sang duy trì chất lượng đồng đều, kiểm soát rủi ro và xây dựng niềm tin với thị trường nhập khẩu. Với Cadimi, bài toán càng rõ hơn bởi không thể xử lý bằng một loại vật tư. Không thể giải quyết bằng một vụ cải tạo đất và càng không thể đặt toàn bộ trách nhiệm lên vai từng hộ nông dân.
Trong nhiều năm, các vùng chuyên canh sầu riêng phát triển dựa khá nhiều vào kinh nghiệm sản xuất của từng hộ dân. Cách chăm sóc, lịch bón phân, lượng vật tư hay biện pháp xử lý ra hoa thường được điều chỉnh theo điều kiện từng vườn. Mô hình này từng giúp cây sầu riêng thích nghi nhanh với thực tế sản xuất. Nhưng khi thị trường chuyển sang kiểm soát rủi ro, sự khác biệt giữa các hộ lại trở thành thách thức.
Theo ông Trần Thanh Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Tháp, một trong những rủi ro lớn hiện nay là cùng nằm trong một mã số vùng trồng nhưng quy trình chăm sóc giữa các hộ vẫn chưa đồng nhất.
Trong khi đó, doanh nghiệp thu mua thường chỉ có thể kiểm tra một phần nguyên liệu trước khi đóng gói. Nếu thị trường nhập khẩu kiểm tra xác suất và phát hiện lô hàng vượt ngưỡng dư lượng hóa chất, tác động không dừng ở một hộ sản xuất. Rủi ro có thể lan sang cả vùng nguyên liệu và ảnh hưởng đến doanh nghiệp thu mua.

Doanh nghiệp chỉ có thể kiểm tra một phần nguyên liệu trước khi đóng gói, nên nếu lô hàng bị phát hiện vượt ngưỡng du lượng, rủi ro có thể ảnh hưởng cả vùng nguyên liệu và doanh nghiệp thu mua. Ảnh: Minh Đảm.
Theo ông Tâm, đây là lý do ngành nông nghiệp đang từng bước chuyển từ kiểm soát từng lô hàng sang quản lý nguy cơ ngay từ vùng trồng. Thay vì chờ sản phẩm tạo ra rồi mới kiểm tra, việc quản trị cần bắt đầu từ đất, vật tư đầu vào và quy trình canh tác.
Dữ liệu đang trở thành công cụ quản trị mới
Một nội dung nhận được nhiều chuyên gia, cơ quan quản lý quan tâm hiện nay là xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ cảnh báo rủi ro tồn dư Cadimi. Theo cơ quan chuyên môn, việc lấy mẫu hiện không còn dừng ở mục tiêu đánh giá hiện trạng mà đang hướng đến xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản trị vùng nguyên liệu.
Riêng khu vực sản xuất sầu riêng trọng điểm tại Đồng Tháp đã triển khai lấy khoảng 1.620 mẫu phục vụ phân tích và xây dựng nền dữ liệu bước đầu. Thông tin thu thập bao gồm tọa độ vùng trồng, đặc điểm đất, chỉ số pH, vật tư đầu vào và kết quả phân tích.
Theo các chuyên gia, mục tiêu của hệ thống này không phải để “gắn nhãn vùng có Cadimi”. Điều cần hướng tới là tạo công cụ cảnh báo sớm. Khi biết khu vực nào có nguy cơ cao hơn, cơ quan chuyên môn và người dân sẽ có điều kiện điều chỉnh quy trình canh tác trước khi phát sinh rủi ro trên sản phẩm.

Chế biến sầu riêng cấp đông để xuất khẩu. Ảnh: Minh Đảm.
Đó cũng là sự khác biệt giữa quản lý sự cố và quản trị nguy cơ. Nếu trước đây quyết định chăm sóc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thì trong tương lai dữ liệu sẽ ngày càng đóng vai trò như một loại “đầu vào sản xuất”.
Sự thay đổi của thị trường cũng đang kéo doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào vùng nguyên liệu. Theo ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, nhiều doanh nghiệp hiện đã bắt đầu áp dụng bước sàng lọc dư lượng hóa chất, kim loại nặng trước thu hoạch như điều kiện thu mua.
Một số đơn vị đồng thời tăng cường theo dõi vùng nguyên liệu, xây dựng tiêu chí đầu vào và phối hợp hướng dẫn kỹ thuật. Dù làm tăng chi phí trong ngắn hạn, nhưng đây được xem là hướng đi cần thiết để giảm rủi ro cho toàn chuỗi.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng không thể thay thế vai trò của cơ quan quản lý hay nhà khoa học. Kiểm soát Cadimi không phải là nhiệm vụ của một mắt xích riêng lẻ. Đó là quá trình phối hợp liên tục giữa sản xuất, kiểm nghiệm và thị trường.
Từ đó, một mô hình liên kết đang dần hình thành. Trong đó Nhà nước giữ vai trò xây dựng cơ sở dữ liệu, giám sát vùng trồng và kiểm soát đầu vào. Nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu cơ chế hấp thu, hoàn thiện quy trình cải tạo đất và đề xuất giải pháp phù hợp cho từng điều kiện canh tác. Doanh nghiệp và hợp tác xã tổ chức liên kết sản xuất, sàng lọc chất lượng sản phẩm và hỗ trợ thực hiện tiêu chuẩn. Nông dân chuyển từ tư duy chăm cây sang quản lý đất và quản trị sản xuất dài hạn.

Xây dựng “vùng xanh” cho sầu riêng vùng ĐBSCL bắt đầu từ quản lý đất, vật tư đầu vào và dữ liệu vùng trồng thay vì chỉ kiểm soát ở khâu cuối. Ảnh: Minh Đảm.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Thủy, Phó Chủ tịch UBND xã Ngũ Hiệp (Đồng Tháp), mục tiêu cuối cùng không chỉ là duy trì xuất khẩu mà còn bảo vệ uy tín của vùng sầu riêng đã được xây dựng qua nhiều năm. Đó cũng là điều mà người trồng đang bắt đầu nhận ra. Một lô hàng vượt ngưỡng dư lượng có thể bị trả về. Nhưng mất niềm tin của thị trường sẽ mất nhiều năm để lấy lại.
Cadimi có thể là phép thử đầu tiên. Nhưng có lẽ sẽ không phải là phép thử cuối cùng. Khi các thị trường ngày càng đặt nặng yêu cầu truy xuất, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững, lợi thế cạnh tranh của ngành hàng sầu riêng sẽ không còn được đo bằng diện tích hay sản lượng. Năng lực cạnh tranh sẽ nằm ở khả năng duy trì vùng nguyên liệu minh bạch, đồng nhất và có khả năng tự kiểm soát rủi ro.
Với vùng sầu riêng ở ĐBSCL, hành trình xây dựng “vùng xanh” vì vậy không bắt đầu từ phòng kiểm nghiệm. Nó bắt đầu từ đất, từ cách người trồng lựa chọn vật tư, từ dữ liệu vùng trồng và từ quyết định cùng thay đổi toàn bộ chuỗi sản xuất.
Với hơn 134.000ha cây ăn trái, sản lượng trên 2,5 triệu tấn/năm, chiếm gần 35% diện tích cây ăn trái vùng ĐBSCL, Đồng Tháp đang đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng, phát triển liên kết chuỗi và sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển ngành hàng trái cây bền vững.
Đối với sầu riêng, tỉnh Đồng Tháp hiện có trên 32.000ha, tập trung ở các xã kiểm soát lũ phía tây của tỉnh với những giống chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng như Ri6, Monthong, sản lượng đạt trên 511.000 tấn. Tỉnh đã được cấp 355 mã số vùng trồng sầu riêng, tương ứng diện tích hơn 13.900ha.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
