Sinh kế song song với bảo tồn
Vườn Quốc gia Xuân Thủy được bảo tồn nghiêm ngặt theo công ước quốc tế, người dân không được đụng vào rừng. Nhưng người dân quanh đó cần sống. Ông Lê Quốc Thanh – Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia giải bài toán ấy bằng một câu ngắn gọn: “Nuôi ong trong rừng ngập mặn chính là bảo vệ rừng”.

Ông Lê Quốc Thanh tham quan mô hình nuôi ong mật trong rừng ngập mặn ở xã Giao Minh. Ảnh: Minh Toàn.
Ong đi lấy mật, không chặt cây, không đánh bắt tận diệt, ngược lại còn thụ phấn, làm giàu thêm cho rừng. Trước đây một bộ phận người dân còn săn chim, khai thác thủy sản tận thu. Giờ có đàn ong, có thu nhập ổn định, họ không còn động đến rừng nữa.
Chính người nuôi ong bây giờ là người báo tin cho cơ quan chức năng nếu thấy ai vào rừng bẫy chim, đánh bắt trái phép. Rừng còn thì ong còn, ong còn thì sinh kế còn. Mối quan hệ hữu cơ ấy trở thành cơ chế bảo vệ rừng ngập mặn một cách tự nhiên.
Nhưng con số tăng trưởng cũng đặt ra câu hỏi ngược. Mười năm qua, đàn ong tại khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã tăng từ 4.000 lên 9.000 đàn. Ông Thanh cho rằng đây là điều mà các cơ quan chuyên ngành cần phải tính toán kỹ, xác định “điểm cân bằng” giữa diện tích, chất lượng rừng và quy mô đàn ong, chứ không thể để phát triển vô tội vạ.

Những thùng ong đặt dưới tán rừng sú, vẹt. Ảnh: Minh Toàn.
Từ năm 2022, mật ong Việt Nam vấp rào cản thuế chống bán phá giá tại Mỹ. Ông Thanh xem đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để thay đổi tư duy, chuyển từ chạy theo số lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và tính đặc hữu.
Mật ong khai thác tự nhiên trong vườn quốc gia có lợi thế lớn trên thị trường quốc tế, giống như mật ong bạc hà Đồng Văn đã từng làm được. Nhưng lợi thế chỉ giữ được nếu tuân thủ nghiêm quy trình, không nhiễm hóa chất, có thương hiệu, có tiêu chuẩn rõ ràng.
Giữ rừng bằng ong
Anh Phạm Thanh Sơn (50 tuổi, thôn Xuân Hồng, xã Giao Minh) nuôi ong đã gần 30 năm. Anh Sơn cho hay: “Trước đó tôi làm thợ mộc, đóng thuyền. Tôi chuyển nghề vì sở thích và vì thu nhập cao hơn hẳn, có năm gấp đôi, gấp ba nghề cũ. Tôi nuôi 380 đàn ong Ý, mỗi năm thu 4 – 5 tấn mật, bán giá 70.000 đến 80.000 đồng/kg, trừ chi phí còn lãi 200 – 300 triệu đồng”.

Chất lượng đàn ong phụ thuộc nhiều vào chất lượng hoa sú, vẹt. Ảnh: Minh Toàn.
Mùa hoa sú, vẹt nở kéo dài trong 2 – 3 tháng, cho anh Sơn sản lượng mật khá ổn định. Nhưng không phải ai cũng thuận theo nhịp ấy như anh. Ông Bùi Văn Bắc, quê Hải Hậu (Ninh Bình) xuống Giao Minh đặt ong từ năm 1999, hiện nuôi hơn 500 đàn.
Có thời điểm mỗi đàn nhà ông Bắc có thể cho tới 40kg mật/vụ, nhưng năm nay ông không có mật để bán. Mùa bão năm nay ông chuyển toàn bộ hơn 500 đàn ong lên Sơn La, không để lấy mật mà chỉ để dưỡng đàn, tránh bão.
Sự khác biệt giữa anh Sơn và ông Bắc cho thấy nghề nuôi ong không có công thức chung. Anh Sơn vẫn giữ lịch trình xuyên Việt, từ Ninh Bình vào Bình Phước, Đắk Nông, ra Bắc Giang rồi vòng lại, mỗi chuyến tốn 40 đến 50 triệu đồng tiền xe. Ông Bắc quy mô lớn hơn lại chọn co gọn phạm vi di chuyển để giảm rủi ro và chi phí.
Cả hai đều bán mật ong thô là chính, riêng ông Bắc còn bán thêm ong giống, gần như năm nào cũng bán. Đáng chú ý, dù có thương hiệu OCOP, ông Bắc cho biết lượng mật đưa vào kênh OCOP chỉ chiếm khoảng 30%, còn lại vẫn bán cho các đầu mối bên ngoài, cho thấy thương hiệu tuy đã có nhưng chưa phải là kênh tiêu thụ chính.

Nghề nuôi ong mật góp phần bảo vệ những cánh rừng ngập mặn. Ảnh: Minh Toàn.
Nghề nuôi ong mật trong rừng sú, vẹt còn tạo việc làm cho những người không nuôi ong ở địa phương với nghề quay mật thuê. Mỗi buổi quay mật bắt đầu từ 5 giờ sáng, kéo dài chừng 2,5 tiếng, cần 4 – 5 người chia việc: người rũ cầu, người nạo sáp, người quay, người lắp cầu trở lại thùng. Tiền công mỗi buổi có thời điểm lên đến 400.000 đồng.
Năm mật nhiều, cứ 4 – 5 ngày các hộ nuôi ong lại quay mật 1 lần, tạo việc làm thường xuyên cho 20 – 30 lao động, đem lại thu nhập cho bà con vào những ngày nông nhàn.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
