Thay đổi thói quen trên đồng ruộng
Dự án “Tuyên truyền, vận động nông dân áp dụng canh tác lúa thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050” được triển khai tại 4 xã Xuân Lập, Thọ Long, Thiệu Tiến và Thiệu Hóa (tỉnh Thanh Hóa) trong vụ mùa năm 2026. Toàn tỉnh có 80 hộ nông dân nòng cốt tham gia với tổng diện tích gần 12 ha. Trong đó 18 hộ thực hiện mô hình trình diễn trên diện tích hơn 3 ha để so sánh, đánh giá cụ thể giữa phương thức canh tác thân thiện với môi trường và phương thức sản xuất truyền thống.

Nông dân tham quan mô hình trình diễn canh tác lúa thân thiện với môi trường tại xã Xuân Lập. Ảnh: Quốc Toản.
Điểm nổi bật của mô hình là tập trung vào 3 nhóm giải pháp kỹ thuật: xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh, quản lý lượng phân đạm thông qua bảng so màu lá lúa và tưới nước ngập – khô xen kẽ (AWD). Trong đó, việc xử lý rơm rạ ngay trên đồng ruộng đã tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức của nông dân. 100% diện tích tham gia mô hình không đốt rơm rạ ngoài đồng. Thay vào đó, rơm rạ được xử lý bằng chế phẩm vi sinh như Sumitri, Trichoderma, giúp đẩy nhanh quá trình phân hủy, bổ sung chất hữu cơ cho đất, hạn chế tình trạng ngộ độc hữu cơ đầu vụ.
Việc sử dụng phân bón được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế của cây lúa. Thông qua bảng so màu lá lúa, nông dân kiểm tra định kỳ từ 5 – 10 ngày để xác định nhu cầu đạm của cây thay vì duy trì thói quen bón nhiều phân để giữ màu lá xanh đậm.
Kết quả thực tế cho thấy lượng đạm urê vô cơ có thể giảm từ 3 – 5kg/sào, tương đương khoảng 60 – 100kg/ha. Giảm phân đạm nhưng cây lúa vẫn phát triển cân đối, lá đứng, thân cứng, đồng thời hạn chế điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh.

Trồng lúa giảm phát thải giúp nông dân tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường. Ảnh: Quốc Toản.
Ruộng mô hình cây lúa sinh trưởng khỏe, bén rễ hồi xanh nhanh, bộ rễ phát triển mạnh, số dảnh vô hiệu được khống chế ở mức thấp, trong khi dảnh hữu hiệu tăng (đạt 8 – 13 bông/khóm).
Đặc biệt, kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ giúp cây lúa hình thành bộ rễ ăn sâu, bám chắc vào đất. Nhờ đó, khả năng chống đổ ngã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ đổ ngã tại các ruộng mô hình chỉ từ 0 – 10%, trong khi một số diện tích đối chứng canh tác theo phương thức truyền thống bị đổ ngã tới 70%.
Tại xã Thiệu Hóa, giống Q5 có chiều cao cây từ 1,28 – 1,31m nhưng vẫn đứng vững trước các đợt mưa giông cuối vụ nhờ áp dụng đúng kỹ thuật điều tiết nước. Đây là kết quả có ý nghĩa trong điều kiện sản xuất lúa vụ mùa thường xuyên chịu tác động của mưa lớn, giông lốc.
Hiệu quả kinh tế được minh chứng
Điều quan trọng nhất để phương thức sản xuất mới được nông dân tiếp nhận và nhân rộng là hiệu quả kinh tế. Thực tế từ mô hình cho thấy sản xuất thân thiện với môi trường không đồng nghĩa với giảm năng suất hay tăng chi phí. Ngược lại, khi áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, nông dân có thể giảm chi phí đầu vào nhưng vẫn nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tại xã Thiệu Hóa, năng suất lúa mô hình ước đạt bình quân 316kg/sào, cao hơn khoảng 100kg/sào so với ruộng đối chứng, tương đương tăng 46,3%. Tại xã Thiệu Tiến, năng suất đạt khoảng 277,5kg/sào, tăng 45kg/sào, tương đương 16,2%. Xã Xuân Lập năng suất ước đạt 275kg/sào, tăng khoảng 10 – 15% so với phương thức canh tác truyền thống.
Tính chung, lợi nhuận của các hộ tham gia mô hình tăng thêm khoảng 615.000 – 915.000 đồng/sào nhờ giảm lượng giống gieo cấy, giảm phân đạm hóa học và hạn chế chi phí phòng trừ dịch hại cuối vụ.

Mô hình canh tác lúa thân thiện với môi trường tại xã Thọ Long mang lại hiệu quả tích cực. Ảnh: Quốc Toản.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mô hình còn hướng đến mục tiêu quan trọng hơn là giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa. Kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ giúp hạn chế điều kiện yếm khí trong đất, qua đó giảm phát sinh khí methane (CH4) – một trong những loại khí nhà kính chủ yếu trong sản xuất lúa nước.
Theo đánh giá của dự án, diện tích áp dụng kỹ thuật trong vụ mùa năm 2026 tại Thanh Hóa giúp cắt giảm ước khoảng 3,7 – 4,1 tấn CO2/ha/vụ. Với tổng diện tích gần 12 ha, lượng phát thải khí nhà kính được cắt giảm ước trên 45,2 tấn. Kết quả bước đầu này mở ra triển vọng xây dựng các vùng sản xuất lúa giảm phát thải, từng bước hình thành cơ sở cho việc xây dựng hồ sơ tín chỉ carbon trong tương lai.
Đáng chú ý, hiệu quả môi trường đang được gắn với giá trị kinh tế của sản phẩm. Dự án đã kết nối bao tiêu lúa tươi tại ruộng với HTX Tân Châu và HTX Xuân Minh với mức giá cam kết cao hơn thị trường tự do từ 5 – 10% đối với diện tích lúa đạt tiêu chuẩn thân thiện với môi trường.

Canh tác lúa thân thiện với môi trường giúp lúa tốt, đất khỏe. Ảnh: Quốc Toản.
Từ kết quả vụ mùa năm 2026, Thanh Hóa đang định hướng tiếp tục mở rộng vùng sản xuất lúa giảm phát thải, trước hết tại những xứ đồng có điều kiện phù hợp, chủ động tưới tiêu.
Mục tiêu trong vụ xuân năm 2027 là mở rộng quy mô trên 100 hộ nông dân/xã, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung từ 35 – 50 ha/xã. Cùng với mở rộng diện tích, dự án tiếp tục chú trọng tập huấn kỹ thuật, xây dựng các tổ giám sát kỹ thuật cộng đồng, củng cố tổ nhóm nông dân và tăng cường liên kết với HTX, doanh nghiệp để bảo đảm đầu ra cho sản phẩm.
Bà Vũ Thị Thanh Xuân, Phó Trưởng Ban Quản lý dự án tỉnh (Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa) cho biết, điểm quan trọng của dự án không chỉ nằm ở những con số về năng suất, chi phí hay lượng phát thải được cắt giảm mà còn ở việc từng bước hình thành thói quen sản xuất mới cho nông dân.

Lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa kiểm tra mô hình canh tác lúa thân thiện với môi trường. Ảnh: Thu Hà.
“Muốn thay đổi cách sản xuất, trước hết phải để nông dân hiểu vì sao cần thay đổi và thay đổi như thế nào. Với mô hình này, chúng tôi không chỉ tuyên truyền mà tập trung hướng dẫn trực tiếp trên đồng ruộng. Qua đó, bà con có thể tự quan sát, so sánh giữa cách làm cũ và cách làm mới, từ đó thấy rõ hiệu quả trên chính thửa ruộng của mình.
Chúng tôi kỳ vọng sau khi dự án kết thúc, các hộ tham gia sẽ tiếp tục duy trì cách làm này và trở thành những hạt nhân để chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn các hộ khác cùng áp dụng. Khi nông dân tự thấy hiệu quả và chia sẻ cách làm với nhau, việc nhân rộng mô hình sẽ thuận lợi và bền vững hơn”, bà Xuân nhấn mạnh.
Tại 4 xã, Ban Quản lý dự án phối hợp với hội nông dân cơ sở thành lập và duy trì 36 tổ, nhóm nông dân, tổ chức sinh hoạt định kỳ 2 tháng/lần. Thông qua các lớp tập huấn, hướng dẫn trực tiếp trên đồng ruộng và hội thảo đầu bờ, nông dân được “cầm tay chỉ việc” từ khâu lựa chọn giống, làm đất, gieo cấy, chăm sóc đến sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý. Qua đó, người dân từng bước thay đổi thói quen sản xuất, áp dụng quy trình kỹ thuật mới, giảm chi phí đầu vào, sử dụng hiệu quả vật tư nông nghiệp và hướng tới sản xuất lúa an toàn, bền vững hơn.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
