Sáng 14/8, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tổ chức hội nghị tập huấn hướng dẫn công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ.

Hội nghị tập huấn hướng dẫn công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Lâm Đồng. Ảnh: Nhật Tiến.
Dự hội nghị có ông Lương Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật miền Trung (thuộc Cục Trồng trọt và BVTV), ông Vũ Đình Cường – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cùng đại diện các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các đơn vị, địa phương và UBND các xã, phường trên địa bàn tỉnh.
Ông Vũ Đình Cường cho biết, hội nghị nhằm giúp địa phương, đặc biệt là UBND xã, phường thực hiện thủ tục hành chính bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả cho các tổ chức, cá nhân. Theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, việc thực hiện thủ tục hành chính được chuyển từ cấp tỉnh về cấp xã.
“Việc phân cấp thủ tục hành chính này về UBND cấp xã thực hiện trong thời gian khá gấp, do đó, đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thiết lập kênh trao đổi phù hợp để thuận tiện trong việc giải đáp khó khăn, vướng mắc trong thời gian đầu thực hiện”, ông Cường nói.

Ông Vũ Đình Cường – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Nhật Tiến.
Lâm Đồng có nhiều sản phẩm chủ lực có giá trị xuất khẩu như rau, hoa, cà phê, chè, cây ăn quả và đặc biệt là sầu riêng. Những năm qua, tỉnh xác định công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói là yêu cầu bắt buộc, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu, nhất là thị trường Trung Quốc.
Hiện toàn tỉnh đã được cấp 1.005 mã số vùng trồng với tổng diện tích khoảng 45.411,66ha, 380 mã số cơ sở đóng gói cho các cây trồng như sầu riêng, thanh long, xoài, chanh dây…
Tại hội nghị, cán bộ các xã, phường được tập huấn những nội dung liên quan đến cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại mã số; tiếp nhận, xử lý hồ sơ và thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP, việc cấp, cấp lại và quản lý mã số vùng trồng được giao cho cấp xã thực hiện. Ảnh: Nhật Tiến.
Nội dung tập huấn cũng tập trung hướng dẫn từng bước thao tác phần mềm, tiếp nhận và trả kết quả trực tuyến cho người dân, kỹ năng kiểm tra thực địa, phương pháp giám sát vùng trồng sau khi được cấp mã số.
Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm. Việc thực hiện thủ tục hành chính gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc, tiền kiểm chỉ thực hiện đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Theo ông Lương Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật miền Trung, trước đây thủ tục cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Quy trình này thường kéo dài, hồ sơ phức tạp, gây khó khăn cho bà con nông dân và hợp tác xã.
Với việc ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, quy trình này được phân cấp về chủ tịch UBND xã, phường trực tiếp quyết định và quản lý, cán bộ cấp xã, phường là những người trực tiếp thụ lý, ký duyệt và giám sát nên trách nhiệm của chính quyền cấp xã, phường rất lớn.

Ông Lương Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật miền Trung (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Nhật Tiến.
“Cán bộ xã phải nắm rõ kỹ thuật, quy chuẩn vùng trồng để hướng dẫn người dân, phải vận hành thành thạo việc số hóa toàn trình, xử lý hồ sơ 100% trên mạng trực tuyến. Chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm đòi hỏi cán bộ cơ sở phải kiểm tra sát sao, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng mạo danh mã số, làm ảnh hưởng đến uy tín nông sản địa phương”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Ba yêu cầu trọng tâm đã được đặt ra gồm quán triệt các điểm mới của Nghị quyết 36, đặc biệt là việc cắt giảm 50% thủ tục hành chính và bãi bỏ quy định diện tích tối thiểu; hướng dẫn từng bước thao tác phần mềm, tiếp nhận và trả kết quả trực tuyến cho người dân; trao đổi, thảo luận kỹ về kỹ năng kiểm tra thực địa, phương pháp giám sát vùng trồng sau khi đã cấp mã số.
Theo Nghị quyết 36, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao chủ tịch UBND cấp xã thực hiện thủ tục hành chính về cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, phê duyệt mã số trong trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt, thực hiện việc thu hồi, tạm dừng, khôi phục mã số theo quy định. Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức hậu kiểm đối với trường hợp thuộc diện hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày mã số được cấp.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
