Trao tri thức cho người nuôi
Bảy năm gắn bó với nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Sơn La, ông Phạm Văn Doanh (xã Quỳnh Nhai) từng bước mở rộng các đối tượng nuôi để nâng cao hiệu quả sản xuất. Từ các loại cá truyền thống như cá trắm, cá chép, rô phi, gia đình ông phát triển thêm cá lăng rồi nghiên cứu nuôi cá tầm – đối tượng có giá trị kinh tế cao nhưng yêu cầu kỹ thuật khắt khe hơn.

Cán bộ Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh Sơn La trao đổi với ông Phạm Văn Doanh (giữa) về kỹ thuật nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện. Ảnh: Nguyễn Nga.
Để thích nghi với điều kiện tự nhiên lòng hồ, ông Doanh chủ động áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật nuôi cá tầm. Mùa nắng nóng lồng nuôi được che lưới chắn nắng, kết hợp dùng máy bơm hút nước lạnh từ độ sâu 15 – 20m lên để hạ nhiệt. Do cá tầm có tập tính ăn ngầm, thức ăn được đưa xuống đáy lồng nhằm giảm thất thoát và tiết kiệm chi phí. Toàn bộ quy trình nuôi đều tuân thủ tiêu chuẩn VietGAP để bảo đảm chất lượng cá thương phẩm khi đưa ra thị trường.
Hiện gia đình ông duy trì 30 lồng nuôi với nhiều đối tượng như cá tầm, cá lăng, cá trắm, cá chép và cá rô. Trong đó cá tầm và cá lăng được xác định là sản phẩm chủ lực nhờ giá trị thương phẩm cao. Gia đình dự kiến tiếp tục mở rộng quy mô nuôi cá tầm sau quá trình thử nghiệm bước đầu đạt kết quả khả quan.
“Mong muốn lớn nhất của chúng tôi là tiếp tục được các cơ quan chuyên môn hướng dẫn sâu hơn về kỹ thuật phòng, chống dịch bệnh thủy sản, giúp người nuôi giảm thiểu rủi ro trong sản xuất”, ông Doanh chia sẻ.
Đáp ứng nhu cầu của người nuôi, khuyến nông tỉnh Sơn La đã tích cực đổi mới phương thức hoạt động. Bên cạnh các lớp tập huấn, Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh tập trung xây dựng các mô hình trình diễn ngay trên lòng hồ để người dân trực tiếp tham quan, học hỏi.

Ông Phạm Văn Doanh (thứ 2 từ phải sang) giới thiệu mô hình nuôi cá thương phẩm trên lòng hồ thủy điện. Ảnh: Nguyễn Nga.
Từ giai đoạn 2008 – 2011, thực hiện các chương trình hỗ trợ người dân vùng tái định cư của tỉnh, hệ thống khuyến nông đã tham gia gần 500 lớp tập huấn hiện trường về nuôi trồng thủy sản, hướng dẫn người dân kỹ thuật sản xuất và tạo sinh kế trên vùng lòng hồ.
Hằng năm, Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tiếp tục phối hợp với Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh duy trì từ 5 – 10 lớp tập huấn chuyên sâu cho từng vùng lòng hồ. Nội dung tập trung vào quy định của Luật Thủy sản, kỹ thuật phòng bệnh trong mùa nước cạn, quy trình nuôi cá tầm công nghệ cao và hướng dẫn các hợp tác xã áp dụng VietGAP.
Khuyến nông đồng hành
Là địa phương có trên 2.800 lồng nuôi và hơn 30 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, Quỳnh Nhai xác định nuôi cá lồng là một trong những hướng phát triển kinh tế trọng điểm, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Ông Tòng Xuân Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Quỳnh Nhai cho biết: Xã thường xuyên chỉ đạo cơ quan chuyên môn tuyên truyền, hướng dẫn các hộ nuôi và hợp tác xã thực hiện các biện pháp chăm sóc, phòng chống dịch bệnh, chủ động gia cố lồng nuôi khi xảy ra mưa lớn, gió mạnh hoặc biến động mực nước.
Theo ông Trường, dù đạt được những bước tiến lớn, tuy nhiên nghề nuôi cá lồng của địa phương vẫn còn những khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng con giống và thức ăn chưa đồng đều, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi sống nên giá trị gia tăng chưa cao. Vì vậy xã tiếp tục đề xuất các cấp, các ngành quan tâm hỗ trợ về kỹ thuật, con giống và mở rộng các lớp tập huấn để người dân tiếp cận những quy trình nuôi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Mô hình nuôi cá tầm trên lòng hồ thủy điện tại xã Quỳnh Nhai của hộ ông Phạm Văn Doanh. Ảnh: Nguyễn Nga.
Theo bà Hoàng Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh Sơn La, với lợi thế gần 4.000km2 mặt nước lòng hồ thủy điện cùng sự quan tâm của tỉnh, nghề nuôi cá lồng đã có bước phát triển rõ nét trong những năm qua. Đến nay, toàn tỉnh có trên 7.000 lồng nuôi và hơn 15 chuỗi cung ứng thủy sản an toàn, tập trung chủ yếu tại các xã Quỳnh Nhai, Mường Chiên, Mường Sại, Mường La, Mường Khiêng, Chiềng Lao…
Hệ thống khuyến nông không chỉ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mà còn đồng hành với người dân thông qua các mô hình trình diễn, đào tạo, tập huấn và kết nối sản xuất. Thông qua các chương trình khuyến nông và sự tham gia của doanh nghiệp, nhiều tiến bộ kỹ thuật từng bước được đưa vào sản xuất.
Điển hình như quy trình ấp nở, ương nuôi cá tầm giống nhân tạo đã được Công ty TNHH MTV Cá tầm Việt Nam – Sơn La phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Sơn La ứng dụng thành công, tỷ lệ sống của cá giống đạt trên 75%, góp phần chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất.

Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh Sơn La tổ chức hội thảo đầu bờ, tạo điều kiện để người nuôi trao đổi, học tập kinh nghiệm nuôi cá lồng. Ảnh: Nguyễn Nga.
Nhiều vùng nuôi cũng chuyển dần từ lồng tre, gỗ truyền thống sang lồng khung sắt và vật liệu HDPE có độ bền cao. Các hợp tác xã, cơ sở nuôi ngày càng quan tâm hơn đến việc theo dõi các chỉ số môi trường nước để chủ động ứng phó với biến động thời tiết.
Theo bà Hiền, giai đoạn tới, Trung tâm tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng các mô hình nuôi cá lồng trên hồ thủy điện để người dân tham quan, học tập và nhân rộng, nhất là tại các xã còn nhiều khó khăn.
Đồng thời tăng cường phối hợp với các doanh nghiệp và đơn vị liên quan hỗ trợ kết nối tiêu thụ, đưa sản phẩm thủy sản từng bước tiếp cận các hệ thống phân phối như siêu thị, chợ đầu mối và những thị trường có yêu cầu cao. Ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá, giới thiệu sản phẩm, góp phần mở rộng thị trường, đưa thủy sản lòng hồ đến gần hơn với người tiêu dùng.
Đi đôi với đào tạo, những năm qua, các mô hình khuyến nông của Sơn La được triển khai gắn liền với các đối tượng nuôi có giá trị cao. Giai đoạn 2023 – 2024, Trung tâm thực hiện dự án khuyến nông trung ương “Nuôi cá lăng nha trong lồng bè đạt chứng nhận VietGAP” tại Mường La và Mường Sại. Giai đoạn 2026 – 2027, đơn vị tiếp tục triển khai mô hình “Nuôi cá trắm đen trong lồng bè” quy mô 2.000 con tại hai địa phương này.
Nhờ đó, nhiều hộ dân đã mạnh dạn chuyển dần từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng tập trung, từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị và áp dụng quy trình kỹ thuật, từng bước hình thành các chuỗi giá trị thủy sản.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
