Giải mã kỳ tích tôm Ecuador [Bài 1]: Từ sụp đổ vì dịch bệnh đến dẫn đầu
LTS: Từ cú sốc dịch bệnh khiến sản lượng sụt giảm nghiêm trọng, Ecuador đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới. Thành công này không chỉ đến từ lợi thế tự nhiên, mà còn là kết quả của quá trình đổi mới về con giống, công nghệ, quản trị và tổ chức sản xuất. Loạt bài “Giải mã kỳ tích tôm Ecuador” phân tích những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của ngành tôm nước này; đồng thời nhìn lại lợi thế và lựa chọn của tôm Việt Nam trong cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường toàn cầu.
Từng suy giảm chỉ còn khoảng 1/3 sản lượng đến chuẩn mực toàn cầu
Ngành tôm Ecuador từng suy giảm chỉ còn khoảng 1/3 sản lượng vào đầu thế kỷ XXI nhưng đến nay đã đạt quy mô xuất khẩu về khối lượng tương đương ngành cá hồi Na Uy.
Để đạt được vị thế này, Ecuador đã trải qua hơn 2 thập kỷ đầu tư vào di truyền, thức ăn và công nghệ. Hiện nay, tôm đã vượt dầu mỏ để trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Ecuador.
Tháng 5/1999, virus gây Hội chứng đốm trắng (WSSV) bùng phát mạnh tại các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng của Ecuador, khiến sản lượng toàn quốc giảm khoảng 2/3. Đến năm 2009, Ecuador mới khôi phục được sản lượng về mức trước khi dịch bệnh xảy ra. Kể từ đó, ngành tôm nước này tăng trưởng nhanh chóng.

Ngành tôm Ecuador hiện đã đạt quy mô xuất khẩu xét về khối lượng tương đương ngành cá hồi Na Uy. Ảnh: CESAR MERA/Shutterstock.
Các chuyên gia cho rằng khó áp dụng nguyên mẫu mô hình tôm Ecuador tại châu Á, bởi thành công của nước này không chỉ nhờ công nghệ mà còn dựa vào vùng nuôi rộng và mật độ thả thấp.
Ông José Antonio Camposano, Chủ tịch Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA) cho biết: “Về cơ bản, cách Ecuador làm là giải quyết vấn đề sinh học bằng chính sinh học”.
Khi đó, các nhà sản xuất đã vào tận ao nuôi, lựa chọn những con tôm sống sót sau dịch bệnh rồi đưa chúng trở lại hệ thống sản xuất, với hy vọng khả năng kháng bệnh có thể được duy trì và nhân lên ở những thế hệ tiếp theo.
Từ một phương pháp chọn lọc tương đối đơn giản ban đầu, ngành tôm Ecuador từng bước phát triển thành các chương trình chọn giống có hệ thống.
Trong khoảng 5 – 6 năm trở lại đây, ngành đã chuyển sang làm việc ở cấp độ hệ gen. Theo Eduardo Arosemena, Tổng Giám đốc Thai Union Feedmill Ecuador, Ecuador hiện duy trì khoảng 70 – 80 dòng gia đình di truyền khác nhau và bố trí từng dòng vào những khu vực có điều kiện phù hợp nhất để phát huy tối đa hiệu quả.
Với hơn 230.000 ha diện tích nuôi, Ecuador có điều kiện duy trì mật độ thả tương đối thấp. Theo Luna, mật độ phổ biến chỉ khoảng 8 – 20 con/m².
Mật độ thấp giúp hạn chế stress và nguy cơ lây truyền dịch bệnh, đồng thời cho phép Ecuador áp dụng mô hình nuôi trong điều kiện tôm tiếp xúc với các mầm bệnh tự nhiên thay vì hoàn toàn cách ly khỏi chúng.
Arosemena cũng chỉ ra một yếu tố đáng chú ý, hiện chỉ khoảng 1/3 diện tích nuôi tạo ra tới 80% sản lượng tôm xuất khẩu. Điều đó đồng nghĩa Ecuador vẫn còn dư địa tăng sản lượng ngay trên diện tích hiện có mà không nhất thiết phải tăng mật độ nuôi.
“Khi mọi người hiểu rằng công nghệ hóa không thay thế con người mà chỉ thay đổi cách con người tương tác với sinh khối, chúng tôi bắt đầu tăng trưởng rất nhanh”, Arosemena nói.
Thức ăn cũng là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi này. “Ban đầu, chúng tôi từng sử dụng loại thức ăn cho gà nhưng có thể dùng được cho tôm”, Arosemena nhớ lại.
Sau đó, công thức thức ăn ngày càng được tối ưu riêng cho tôm, trong khi phương thức cho ăn cũng thay đổi căn bản. Nếu trước đây các trang trại chỉ cho tôm ăn 3 – 4 lần/ngày, thì hiện nay hệ thống cho ăn tự động có thể cấp thức ăn 15 – 20 lần mỗi giờ, giúp kiểm soát chặt chẽ hơn lượng thức ăn tiêu thụ và tốc độ tăng trưởng.
So sánh với ngành cá hồi Na Uy
Novel Sharma, chuyên gia phân tích thủy sản của Rabobank chỉ ra nhiều điểm tương đồng giữa ngành tôm Ecuador và ngành cá hồi Na Uy, nhưng ông cũng cho rằng, điểm khác biệt lớn nằm ở khả năng điều chỉnh nguồn cung.
Cá hồi cần hơn 2 năm để đạt kích cỡ thương phẩm, trong khi sản xuất tại Na Uy bị giới hạn bởi giấy phép, địa điểm nuôi và hạn mức sinh khối. Ngược lại, chu kỳ nuôi tôm chỉ khoảng 3 – 4 tháng và Ecuador vẫn còn dư địa tăng sản lượng thông qua công nghệ hóa các trang trại.
Vì vậy, nguồn cung cá hồi khó tăng nhanh khi nhu cầu tăng, giúp duy trì biên lợi nhuận cao hơn nhưng giá có thể biến động mạnh. Trong khi đó, ngành tôm Ecuador có thể điều chỉnh sản lượng chỉ trong vài tháng, khiến biên lợi nhuận thấp hơn nhưng giá tương đối ổn định.

Tôm thẻ chân trắng đông lạnh nguyên con, còn đầu tại một nhà máy ở Ecuador. Ảnh: Louis Harkell/Undercurrent News.
Trong thập kỷ qua, giá trị xuất khẩu tôm Ecuador tăng chậm hơn khối lượng, chủ yếu do yếu tố giá. Tuy nhiên, trong 4 – 5 năm gần đây, doanh thu của 5 nhà sản xuất tôm lớn nhất Ecuador tăng nhanh hơn 5 công ty cá hồi hàng đầu Na Uy.
Ecuador cũng đang từng bước tiến lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị. Trong nhiều năm, nước này chủ yếu xuất khẩu tôm nguyên con còn đầu sang Trung Quốc. Khi COVID-19 làm gián đoạn thương mại vào năm 2020, mức độ phụ thuộc quá lớn vào một thị trường xuất khẩu đã bộc lộ rõ và buộc ngành tôm Ecuador phải đa dạng hóa.
Thị trường châu Âu và Bắc Mỹ đều có nhu cầu đối với sản phẩm tôm bóc vỏ, rút chỉ, trong khi thời điểm đó Ecuador chưa có đủ năng lực chế biến để cung cấp sản phẩm này với khối lượng lớn.
Số liệu cho thấy năng lực bóc vỏ tôm của Ecuador đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2020 – 2025. Tỷ trọng tôm nguyên con còn đầu trong tổng xuất khẩu vì thế giảm từ 74% năm 2019 xuống còn 44%, trong khi lượng tôm xuất khẩu sang châu Âu đã tăng gần gấp đôi.
Dù còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành tôm Ecuador cũng đối mặt với không ít rủi ro. Đáng chú ý là nguy cơ dư cung khi sản lượng tăng nhanh hơn nhu cầu, kéo giá và biên lợi nhuận đi xuống. Bên cạnh đó là áp lực từ thuế quan tại thị trường Hoa Kỳ, xung đột, biến đổi khí hậu, lãi suất, dịch bệnh và tội phạm có tổ chức trong chuỗi xuất khẩu.
Năng lực sản xuất dường như không còn là rào cản chính đối với tăng trưởng của ngành tôm Ecuador. Allan Cooper, Giám đốc chiến lược của Vitapro ước tính, sản lượng tôm Ecuador có thể tăng 7 – 10% mỗi năm trong 5 năm tới, đồng nghĩa thị trường có thể được bổ sung thêm vài trăm nghìn tấn tôm. Vấn đề lớn nhất hiện nay là liệu nhu cầu thị trường có tăng đủ nhanh để hấp thụ lượng cung bổ sung này hay không. Đây vẫn là câu hỏi mà ngành tôm Ecuador chưa tìm được lời giải.
Lược dịch từ The Fish Site, tiêu đề có điều chỉnh phù hợp với nội dung
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
