Nỗi niềm canh cánh
Những nương chè bạt ngàn vươn mình trong sương sớm không chỉ phủ xanh đất trống đồi trọc mà còn mang lại thu nhập ổn định, giúp hàng ngàn hộ dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, những người gắn bó máu thịt với cây chè vẫn luôn canh cánh: Trà Lào Cai đi muôn nơi, vươn ra nhiều châu lục, nhưng vì sao cái tên Lào Cai lại vắng bóng trên bản đồ trà thế giới?

Lào Cai có sản lượng chè xuất khẩu lớn nhưng chưa để lại tên tuổi trên thị trường quốc tế. Ảnh: Thanh Tiến.
Chúng tôi đem câu hỏi ấy đi khắp những vùng chè nổi danh của Lào Cai như Suối Giàng, Mường Khương, Y Tý, Phình Hồ… và thật may khi được gặp gỡ những doanh nghiệp, hợp tác xã tiên phong, mang khát vọng định vị thương hiệu chè Lào Cai.
Sau không ít những thăng trầm, HTX chè Mường Khương hôm nay đang là một trong những đơn vị hạt nhân thực hiện tốt chuỗi liên kết tiêu thụ với nông dân. Mỗi năm, đơn vị này thu mua trên 10.000 tấn chè búp tươi, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng của khu vực huyện Mường Khương cũ.
Ông Trần Văn Hùng, Phó Giám đốc HTX chè Mường Khương (đồng thời là Phó Giám đốc HTX Chè hữu cơ A Mú Sung) thẳng thắn nhìn nhận cả đơn vị mình cũng như nhiều hợp tác xã khác ở Lào Cai đang tự đặt mình ở phân khúc thấp. Dòng sản phẩm của họ chủ yếu hướng tới xuất khẩu sang thị trường Trung Đông.

Người dân xã Bản Lầu thu hái chè búp tươi bán cho HTX. Ảnh: Thanh Tiến.
Nguyên nhân theo ông Hùng xuất phát từ thực trạng canh tác của bà con vẫn kiểu đại trà, không tuân theo quy trình chuẩn nào. Để ép cây chè nảy búp liên tục trong suốt 8 – 9 tháng mỗi năm, vẫn còn tình trạng sử dụng các loại phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật độc hại.
Phương thức canh tác ấy giúp sản lượng búp tươi thu được rất lớn. Một nhà máy có thể thu mua và đưa vào sản xuất từ 80 – 100 tấn nguyên liệu mỗi ngày. Dù giá thu mua búp tươi khá rẻ, chỉ dao động từ 5.000 – 7.000 đồng/kg, nhưng bù lại bằng số lượng khổng lồ, thu nhập của bà con vẫn duy trì ở mức cao và ổn định.
Cộng với thị trường Trung Đông xưa nay vốn tương đối dễ tính nên các doanh nghiệp xuất khẩu hầu như không gặp rào cản kỹ thuật quá lớn.

Sản phẩm chè chế biến chủ yếu xuất khẩu thô sang thị trường Trung Đông. Ảnh: Thanh Tiến.
Theo ông Hùng, điều đó dẫn đến thực trạng các doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô. Hàng ngàn tấn chè được đóng bao tải lớn xuất khẩu để các đối tác tự đấu trộn, tinh chế, đóng gói dưới thương hiệu của họ.
“Phương thức này mang lại dòng tiền nhanh chóng, giải quyết bài toán tiêu thụ tức thời, nhưng cái giá phải trả là đất đai bị bào mòn, chè Lào Cai gần như vô danh trên thị trường quốc tế”, ông Hùng nói.
Con đường mới
Nhận thức rõ nguy cơ tụt hậu nếu chỉ mãi chạy theo sản lượng, những năm gần đây, các doanh nghiệp chế biến sâu tại Lào Cai đã tập trung đầu tư nâng cấp toàn diện. Trong số đó, Công ty cổ phần Phong Hải là doanh nghiệp điển hình thay đổi công nghệ chế biến.
Tiền thân là nông trường quốc doanh được thành lập từ năm 1993, Phong Hải thấu hiểu sâu sắc để không bị tụt hậu, việc đổi mới toàn diện là bắt buộc. Phong Hải sở hữu lợi thế vùng chè nguyên liệu hơn 800 ha, cung cấp 5.000 tấn búp tươi mỗi năm. Vùng chè tập trung ở độ cao đặc trưng khoảng 400m so với mực nước biển, nơi khí hậu và thổ nhưỡng tạo ra những búp chè gói trọn hương trời lộc đất của vùng núi cao Tây Bắc.

Công ty cổ phần Phong Hải đầu tư nhiều máy móc hiện đại trong chế biến chè. Ảnh: Thanh Tiến.
Ông Vũ Minh Đức, Giám đốc Công ty cổ phần Phong Hải phân tích, sự khác biệt giữa chè nguyên liệu thô và chè thành phẩm cao cấp không chỉ nằm ở lá chè mà được quyết định bởi sự tinh chỉnh khắt khe của hệ thống máy móc. Trong giai đoạn 2025 – 2026, Công ty đã đầu tư mạnh để nhập khẩu và lắp đặt đồng bộ hệ thống dây chuyền tự động hóa lên tới 80%.
Công nghệ không đơn thuần là thay thế sức người mà quyết định chất lượng trà. Hệ thống máy xào giúp diệt men nhanh chóng, giữ lại toàn bộ nội chất của búp chè non ngay khi vừa thu hái. Tiếp đó, hệ thống máy lăn trong quá trình vò, lăn ép giúp tạo ra những tầng hương thơm đặc trưng cho từng dòng trà trước khi đưa vào hệ thống sấy và máy tách màu quang học.
Bên cạnh công nghệ chế biến, hệ sinh thái hậu cần cũng được Phong Hải siết chặt. Mọi phương tiện vận chuyển trước khi vào nhà máy đều phải trải qua kiểm tra vệ sinh kỹ lưỡng. Nhờ sự đầu tư bài bản này, Phong Hải đủ sức sản xuất sản phẩm cho từng thị trường từ chè xanh lăn, xanh viên xuất khẩu đi Trung Đông, chè xanh duỗi xuất đi Đài Loan cho đến dòng chè OP nội tiêu cao cấp.

Dây chuyền chế biến hiện đại giúp nâng cao chất lượng sản phẩm trà. Ảnh: Thanh Tiến.
Hiện Phong Hải đang liên kết với hai vùng nguyên liệu chính gồm vùng Bảo Thắng với hơn 400 ha chè VietGAP và vùng Mường Khương chuyên chè shan.
Ông Vũ Minh Đức đưa ra phép tính: Trồng quế mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên phải 15 năm mới cho thu hoạch nên tính quân mỗi năm người dân chỉ thu về khoảng 50 – 60 triệu đồng/ha. Trong khi đó với cây chè, nếu áp dụng đúng kỹ thuật, năng suất có thể đạt mức 30 tấn/ha. Với giá thu mua luôn duy trì từ 6.500 – 8.500 đồng/kg, doanh thu từ chè lên tới hơn 200 triệu đồng/ha/năm. Sau khi trừ đi chi phí vật tư và nhân công, người dân có lợi nhuận từ 130 – 140 triệu đồng/ha.
Để hỗ trợ người dân vùng nguyên liệu, Phong Hải đã nhập khẩu phân gà hữu cơ từ Nhật Bản, hỗ trợ miễn phí 40% chi phí. Với 60% chi phí còn lại và thuốc bảo vệ thực vật, Công ty ứng trước 100%, sau đó khấu trừ dần vào tiền bán chè hàng tháng mà không tính lãi suất.

Bên cạnh xuất khẩu, doanh nghiêp cũng đang chú trọng các sản phẩm nội tiêu. Ảnh: Thanh Tiến.
Bài toán kinh tế khá rõ ràng, nhưng con đường đưa chè Lào Cai thâm nhập vào các thị trường khó tính còn nhiều trở ngại bởi thói quen canh tác.
Theo ông Đức, trước đây bà con lạm dụng thuốc diệt cỏ, một năm chỉ cần vác bình đi phun hai lần là đồi chè sạch bong. Nhưng khi tham gia VietGAP, tuyệt đối cấm thuốc diệt cỏ, bà con phải vác máy đi phát cỏ hàng tháng. Vất vả khiến thời gian đầu nhiều hộ gia đình e ngại. Để động viên bà con, Công ty chủ động nâng giá thu mua nguyên liệu đạt chuẩn và khen thưởng cuối năm cho các hộ xuất sắc.
Tại Mường Khương, để mở rộng vùng nguyên liệu sạch, HTX chè Mường Khương cũng đang triển khai dự án mới trên 100 ha sản xuất đảm bảo an toàn.
Ông Trần Văn Hùng – Phó Giám đốc HTX chè Mường Khương chia sẻ, nếu bà con chăm sóc tự do, giá thu mua chè nguyên liệu là 7.000 đồng/kg, nhưng nếu tuân thủ tuyệt đối quy trình sạch, dùng phân hữu cơ do HTX cung cấp, HTX mua với giá 15.000 đồng/kg.
Chè không dùng chất kích thích sẽ nảy mầm chậm, sản lượng thấp đi. Điều doanh nghiệp lo ngại nhất là tình trạng trà trộn. Trong lô 100 ha, chỉ cần một cá nhân lén lút phun thuốc kích thích, khi kiểm nghiệm dính dư lượng là cả lô chè thất bại. Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trôi nổi, nhập lậu không rõ thành phần vẫn đang đe dọa tới uy tín của cả vùng.

Liên kết với người dân trong việc xây dựng vùng nguyên liệu chè sạch là yếu tố sống còn với doanh nghiệp. Ảnh: Thanh Tiến.
Không chỉ bán nguyên liệu thô, HTX Chè hữu cơ A Mú Sung của ông Hùng cũng đang dồn toàn lực khai thác những gốc chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi tại Y Tý và A Mú Sung. Riêng tại A Mú Sung, HTX đang quản lý nghiêm ngặt vùng trồng khoảng 80 ha.
Quy trình thu hái tại đây vô cùng khắt khe, chỉ hái một tôm hai lá hoặc hái nguyên búp non để làm bạch trà. Định hướng của dòng sản phẩm này là tiến vào Châu Âu và Nhật Bản.
Sau nhiều nỗ lực, HTX đã chế biến thành công bộ ba sản phẩm chất lượng cao, giá trị lên tới 8 – 10 triệu đồng/kg gồm hồng trà (lên men nhẹ nhàng, tannin thấp, uống lạnh được, hợp cho phụ nữ), long tỉnh (hương vị tinh tế, tannin trung bình) và bích hoa xuân (đậm đà, tannin cao).
Đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã kiến nghị chính quyền địa phương cần vào cuộc mạnh mẽ, sâu sát hơn nữa trong việc tuyên truyền, giám sát, loại bỏ hoàn toàn thuốc diệt cỏ và hóa chất độc hại ngoài danh mục. Điều này không chỉ để chè Lào Cai tiến vào Châu Âu mà cốt lõi là bảo vệ môi trường và sức khỏe của chính nông dân.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
