Thay đổi để thích ứng
Trước áp lực chi phí tăng cao, nhiều hộ nuôi tôm tại TP Cần Thơ buộc phải điều chỉnh phương thức sản xuất như giảm mật độ thả, cắt giảm chi phí cải tạo ao hoặc lựa chọn vật tư giá rẻ hơn. Tuy nhiên, việc cắt giảm này nếu không được tính toán kỹ, nguy cơ phát sinh dịch bệnh và rủi ro môi trường trong suốt vụ nuôi sẽ gia tăng.

Nhiều hộ nuôi chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất trong bối cảnh chi phí tăng cao. Ảnh: Kim Anh.
Ông Huỳnh Tấn Lực, ở khu vực ấp Nguyễn Út (phường Khánh Hòa) cho hay, ông vừa quyết định chuyển toàn bộ diện tích ao đất của gia đình sang mô hình nuôi tôm lót bạt bờ, đáy đất nhằm kiểm soát tốt hơn các yếu tố môi trường.
Theo ông Lực, việc lót bạt giúp hạn chế tích tụ chất thải dưới đáy ao, đồng thời dễ quản lý nguồn nước và giảm nguy cơ phát sinh mầm bệnh. Trước khi thả giống, ao nuôi được cải tạo kỹ lưỡng từ gia cố bờ bao, xử lý đáy ao đến kiểm tra nguồn nước đầu vào, bảo đảm điều kiện ổn định cho vụ nuôi.
Trong khi đó, một số nông dân khác lại lựa chọn giải pháp “nuôi thăm dò” để giảm rủi ro. Vụ nuôi năm nay, anh Phạm Huỳnh Hà ở khu vực Bưng Tum (phường Khánh Hòa) không thả tôm đồng loạt như trước mà chỉ triển khai trước một ao để theo dõi diễn biến thời tiết và tín hiệu thị trường.
Với ao tôm đã được 30 ngày tuổi, anh Hà đặc biệt chú trọng kiểm soát các yếu tố môi trường như độ mặn, pH, độ kiềm và nhiệt độ nước. Ao nuôi được sàng lọc cá tạp, lấy nước sạch có độ mặn phù hợp và kiểm tra kỹ các chỉ số trước khi thả giống. Trong quá trình nuôi, anh thường xuyên bổ sung khoáng chất và theo dõi mật độ tảo để điều chỉnh kịp thời.

Các hộ nuôi tôm nước lợ ở TP Cần Thơ chủ động kiểm tra nguồn nước trước khi quyết định thả giống. Ảnh: Kim Anh.
Tương tự, anh Ngô Thanh Tuấn ở ấp Cảng Buối (phường Khánh Hòa) cũng giảm mật độ thả xuống khoảng 100 con/m², thấp hơn so với trước đây nhằm giảm áp lực môi trường và hạn chế phát sinh khí độc trong ao.
Theo anh Tuấn, vào mùa mưa, sự biến động nhiệt độ và độ mặn dễ khiến tôm bị sốc môi trường. Vì vậy, việc điều chỉnh lượng thức ăn theo thời tiết là rất quan trọng, để tránh dư thừa gây ô nhiễm nguồn nước.
Không chỉ các hộ nuôi riêng lẻ, nhiều HTX cũng lựa chọn cách sản xuất thận trọng hơn. Tại HTX Nông ngư 14/10 ở xã Hòa Tú, với tổng diện tích nuôi tôm nước lợ hơn 31 ha, các xã viên thống nhất quan điểm sản xuất “chậm mà chắc”. Đến thời điểm này, diện tích thả nuôi mới đạt khoảng 50%, nhưng tỷ lệ tôm thiệt hại được kiểm soát khá tốt.
Theo Ban giám đốc HTX, thả nuôi rải vụ trong giai đoạn giao mùa giúp giảm nguy cơ thiệt hại trên diện rộng, đồng thời các quy trình quản lý môi trường ao nuôi được phổ biến và áp dụng đồng bộ giữa các xã viên.
Lan rộng công nghệ mới
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, tôm nước lợ vẫn là đối tượng nuôi chủ lực của địa phương với tổng diện tích khoảng 52.490 ha. Năm 2026, thành phố đặt mục tiêu thả nuôi khoảng 51.000 ha, sản lượng dự kiến đạt 240.000 tấn.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này không dễ dàng khi chi phí đầu vào tiếp tục neo cao, trong khi giá bán tôm dù có cải thiện nhưng chưa tương xứng với chi phí sản xuất.

Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) đang triển khai nhiều thử nghiệm cải tiến công nghệ nuôi tôm nước lợ. Ảnh: Kim Anh.
Thực tế cho thấy, môi trường và dịch bệnh vẫn là nguyên nhân chính gây thiệt hại cho nghề nuôi tôm. Năm 2025, diện tích tôm nuôi bị thiệt hại của TP Cần Thơ hơn 1.400 ha. Mặc dù diện tích này nằm ở ngưỡng kiểm soát, nhưng nguy cơ rủi ro vẫn hiện hữu nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ.
Theo bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, việc quản lý tốt sức khỏe tôm nuôi là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Trong điều kiện thời tiết biến động, đặc biệt khi mưa lớn hoặc nhiệt độ nước xuống dưới 24°C hoặc vượt quá 32°C, người nuôi nên giảm 30-50% lượng thức ăn, thậm chí tạm ngừng cho ăn để hạn chế ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, việc bổ sung khoáng chất và vitamin C vào thức ăn hoặc tạt trực tiếp xuống ao nuôi cũng giúp tăng cường sức đề kháng cho tôm trong điều kiện thời tiết bất lợi.
Ngành nông nghiệp và môi trường thành phố đang đẩy mạnh công tác quan trắc môi trường vùng nuôi để kịp thời cung cấp thông tin, giúp người nuôi chủ động trong việc lấy nước và xử lý ao.
Bên cạnh đó, nhiều chương trình nghiên cứu khoa học đang được Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố triển khai nhằm tìm kiếm các mô hình nuôi tôm hiệu quả và bền vững hơn.
Các chuyên gia Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) đã thực hiện nhiều thử nghiệm cải tiến công nghệ nuôi tôm thâm canh. Một trong những mô hình đáng chú ý là ứng dụng lưới che Slim White Curtain trong nuôi tôm thẻ chân trắng. Đây là loại lưới làm từ vải không dệt, có khả năng phản xạ tia hồng ngoại và không giữ nhiệt, giúp ổn định nhiệt độ nước, hạn chế tác động của bức xạ mặt trời và cải thiện chất lượng môi trường ao nuôi.
Kết quả thử nghiệm ở quy mô 40 m3 cho thấy, mô hình này giúp cải thiện đáng kể tốc độ sinh trưởng của tôm, với tỷ lệ sống đạt đến 91,2% và năng suất tôm khoảng 2,63 kg/m3, cao hơn so với ao nuôi không sử dụng hoặc sử dụng các loại lưới khác. Ngoài việc nâng cao năng suất, mô hình còn giúp cải thiện màu sắc tôm khi thu hoạch, qua đó tăng giá trị thương phẩm.
Bên cạnh đó, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài cũng đang cho thấy hiệu quả trong việc nâng cao năng suất và giảm phát thải khí nhà kính.
PGS.TS Lê Quốc Việt, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ biển, Trường Thủy sản cho biết, đây là mô hình tuần hoàn kín, không thay nước trong suốt vụ nuôi, tỷ lệ bổ sung nước chỉ khoảng 10-20%. Nguồn nước có thể tái sử dụng cho nhiều vụ nuôi trong năm.
Đáng chú ý, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy một số loại nông sản như chuối, cà rốt, khoai lang hay bí đỏ có thể được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho tôm thẻ chân trắng nhằm giảm lượng thức ăn công nghiệp và hạn chế phát thải ra môi trường.

Các hộ nuôi tham quan mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh trong hệ thống tuần hoàn kết hợp đa loài tại Trường Thủy sản. Ảnh: Kim Anh.
Riêng trong mô hình tuần hoàn này, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm sử dụng bí đỏ làm thức ăn trực tiếp cho tôm. Theo PGS.TS Lê Quốc Việt, bí đỏ chứa nhiều thành phần dinh dưỡng nên có thể hỗ trợ tôm phát triển mà không cần bổ sung thêm khoáng chất.
“Do hàm lượng protein trong bí đỏ rất thấp so với thức ăn viên (lên tới 40%), nên sẽ giảm đáng kể ô nhiễm môi trường. Khi thu hoạch, chất lượng tôm tốt, thịt dai, màu sắc tươi và giá bán cũng cao hơn”, PGS.TS Lê Quốc Việt cho biết.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc ứng dụng công nghệ để kiểm soát môi trường nuôi là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, để các mô hình này được nhân rộng, người nuôi cần được hỗ trợ về kỹ thuật, vốn và chuyển giao công nghệ.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
