3 bông gieo tay bằng 2 bông gieo máy
Ông Nguyễn Văn Các đứng giữa thửa ruộng ở xã Yên Cường, tỉnh Ninh Bình, cúi xuống bứt một khóm lúa chín vàng rồi tách từng bông để so sánh. Một bên là ruộng gieo vãi theo cách cũ của gia đình, một bên là ruộng gieo hàng bằng máy trong mô hình lúa giảm phát thải do Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) triển khai.

Ông Nguyễn Văn Các bên thành quả từ mô hình canh tác lúa giảm phát thải. Ảnh: Bảo Thắng.
Lặng mất vài giây, ông bảo nhìn bằng mắt thường cũng thấy khác. Ruộng gieo tay màu xanh dày hơn, nhiều bông hơn nhưng bông ngắn, hạt thưa, cây mềm. Trong khi đó, ruộng gieo máy thưa hơn hẳn, khoảng cách hàng rõ ràng, nhưng bông dài và chắc hơn. “3 bông bên gieo tay chỉ bằng 2 bông bên gieo máy”, ông nhẩm tính sau khi đếm số hạt.
Chiêm nghiệm ấy có lẽ đi ngược với kinh nghiệm trồng lúa của phần lớn nông dân miền Bắc. Ở Ninh Bình – vựa lúa lớn bậc nhất tại Đồng bằng sông Hồng, gieo dày từ lâu được xem là cách “ăn chắc”. Người dân thường tăng lượng giống vì thưa cây sẽ ít bông, ít thóc. Một sào (360m2) có thể dùng tới 2,5 – 3kg giống. Ruộng càng xanh rậm càng tạo cảm giác yên tâm.
Nhưng mô hình lúa giảm phát thải triển khai trong vụ xuân năm nay ở Yên Cường lại bắt đầu bằng việc giảm gần một nửa lượng giống. Ruộng của ông Các trước đây mỗi sào gieo khoảng 2,5 – 2,7kg giống, nhưng với máy sạ hàng kết hợp vùi phân bón trong mô hình lúa giảm phát thải, lượng giống chỉ còn khoảng 1,2 – 1,5kg.

Ông Nguyễn Văn Dự, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã nông nghiệp Nam Cường (trái) cùng chuyên gia IRRI kiểm tra ruộng mô hình. Ảnh: Bảo Thắng.
Ruộng sau gieo nhìn thưa, lớp bùn còn lộ thành từng khoảng xám nhạt giữa màu mạ non. Mỗi lần đi ngang qua, hàng xóm dường như đi chậm một chút. Có người cúi sát xuống ruộng, nhìn một hồi rồi hỏi ông Các có nhầm tay khi đổ giống không. Người khác thì im lặng, đứng nhìn ái ngại vài giây trước khi tiếp tục rảo bước. Nhưng hôm sau, họ lại ghé qua. Điều khiến mọi người “khó chịu” không hẳn là ruộng lúa ấy xấu, chỉ là nó không giống những gì họ quen nhìn suốt mấy chục năm.
Bản thân ông Các cũng không chắc chắn hoàn toàn. Dù quyết tâm tham gia mô hình bằng cả 4 sào ruộng, đến khi lúa bắt đầu đứng cái rồi trỗ bông, sự khác biệt ông mới thấy rõ. “Bông lúa bên gieo bằng máy dày hạt hơn. Mật độ cây phù hợp nên ánh sáng vào được”, ông bảo. Theo tính toán sơ bộ của gia đình, năng suất ruộng gieo máy có thể cao hơn khoảng 20 – 30% so với ruộng gieo tay.
Tuy nhiên, điều khiến ông bất ngờ hơn là ruộng gieo máy gần như không phải dặm lại. Trong cách làm cũ, sau khi gieo vãi, nhiều chỗ lúa mọc không đều hoặc bị úng chết phải dặm thủ công. Với những chân ruộng thấp ở Yên Cường, riêng công dặm đã là khoản lớn.
Ông Nguyễn Văn Dự, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã nông nghiệp Nam Cường thừa nhận, nhiều ruộng trước đây phải mất 1 – 2 công dặm mỗi sào, tương đương khoảng 300.000 đồng tiền thuê nhân công. “Máy gieo hàng thì cơ bản không phải dặm nữa”, ông Dự phấn khởi.

Máy sạ hàng kết hợp vùi phân trên ruộng nhà ông Các vào đầu vụ xuân năm nay. Ảnh: Bảo Thắng.
Yên Cường là vùng làm lúa lâu năm nhưng cũng là nơi lao động nông nghiệp già hóa nhanh. Người trẻ đi làm công ty, ở nhà chủ yếu còn người lớn tuổi. Nhiều công đoạn đồng áng ngày càng khó thuê người. “Nhân công giờ rất đắt, cấy thuê khoảng 700 – 800 nghìn một sào”, ông Dự tính toán. Chẳng thế mà điều hợp tác xã nhìn thấy đầu tiên ở mô hình canh tác giảm phát thải không phải bán tín chỉ carbon mà là khả năng cơ giới hóa.
Chiếc máy của dự án vừa gieo hàng vừa vùi phân xuống đất. Chỉ độ 2 giờ là đã xong toàn bộ ruộng nhà ông Các. Không những vậy, người dân không còn phải rải phân nhiều lần như trước. Trong khi đó, ở ruộng truyền thống thường bón tới 2 – 3 đợt phân, tổng lượng khoảng 25kg mỗi sào, gấp đôi so với lượng dùng trong mô hình.
Thuyết phục nông dân từ gốc rễ
Nghe người dân nói đã mê, nhưng tận mắt thấy cách cây lúa phản ứng với phương thức mới, hẳn
Gần ngày gặt, ông Các vẫn giữ thói quen cũ của nông dân, cúi xuống đếm hạt trên từng bông lúa. Nhưng cách nhìn ruộng của ông đã thay đổi. Không còn cần ruộng dày và xanh mướt nữa, giờ ông chú ý nhiều hơn đến độ thoáng, độ cứng cây và chiều dài bông lúa.
chẳng còn ai nghi ngờ hiệu quả của trồng lúa giảm phát thải.
Làm lúa hơn nửa đời người, ông Các bảo ruộng gieo tay thường xanh đậm lúc mới bón phân, sau đó nhạt dần khi “ăn hết phân”, rồi lại phải thúc tiếp. Cây lúa dưới ruộng cứ như phát triển thành từng đợt, lá non, thân mềm. Trong khi đó, ruộng gieo máy giữ màu xanh ổn định gần như suốt vụ. “Nó cứ xanh đều tới lúc trỗ. Cảm giác không bị hụt phân giữa chừng”, ông Các hồ hởi. Đến cuối vụ, khi bông bắt đầu chắc hạt, ruộng chuyển vàng từ từ, đồng đều hơn thay vì bị vàng sớm ở phần lá gốc.
Đến ruộng nhà ông Các những ngày đầu tháng sáu – thời điểm lúa chuẩn bị thu hoạch mới thấy tại sao nông dân trầm trồ tới vậy. Mặt ruộng khô thoáng. Phần lớn ruộng chỉ phun một lần thuốc giữ lá đòng trước trỗ, gần như không phải xử lý thêm các đối tượng sâu bệnh khác như khô vằn, đạo ôn, rầy…

Anh Ngô Đức Thể cẩn thận ghi chép để tính toán năng suất lúa trong mô hình giảm phát thải. Ảnh: Bảo Thắng.
Lúa gieo hàng “đanh cây” hơn từ giai đoạn đứng cái. Lá già vàng dần từ gốc lên trong khi phần thân và lá đòng vẫn giữ độ cứng, cây khỏe từ dưới gốc lên.
Đằng sau những thay đổi ấy là cả một quy trình kỹ thuật mà trước đây nông dân trong vùng hầu như chưa áp dụng. Anh Ngô Đức Thể, cán bộ kỹ thuật của IRRI tại Việt Nam cho biết, mô hình ở Yên Cường sử dụng phương pháp gieo hàng kết hợp vùi phân và quản lý nước theo nguyên lý tưới ngập – khô xen kẽ. Các đợt rút nước giữa vụ giúp bộ rễ ăn sâu hơn, cây lúa cứng và ít đổ hơn, đồng thời giảm môi trường yếm khí sinh ra khí metan.
“Không chỉ giảm phát thải mà cây lúa cũng chống đổ tốt hơn”, anh Thể cho biết và thừa nhận làm lúa giảm phát thải ở Đồng bằng sông Hồng khó nhất là san phẳng mặt ruộng và đảm bảo hệ thống thủy lợi. Ruộng miền Bắc nhỏ, không đều, cao thấp xen kẽ. Nhiều nơi nước tiêu chậm. Nếu mặt ruộng không đủ phẳng, máy gieo hàng sẽ khó hoạt động hiệu quả.

Nông dân gặt điểm đánh giá năng suất lúa trong mô hình giảm phát thải. Ảnh: Bảo Thắng.
Đó cũng là lý do Hợp tác xã nông nghiệp Nam Cường chọn ngay chân ruộng trũng và khó làm nhất để triển khai mô hình. “Nếu chân đất này làm được thì các chân ruộng khác đều làm được”, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Nguyễn Văn Dự bày tỏ.
Mô hình này không chỉ là câu chuyện giảm phát thải mà còn là thử nghiệm cho một cách tổ chức sản xuất khác. Thay vì mỗi hộ làm một kiểu, từng thửa ruộng được vận hành đồng bộ hơn, cùng lịch gieo, cùng máy móc, cùng quy trình nước tưới và phân bón. Đó là điều mà nông nghiệp miền Bắc nhiều năm muốn làm nhưng khó thực hiện vì ruộng quá manh mún.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
