Ngày 23 – 24/4, tại Trung tâm Văn hóa Hội nghị tỉnh Lai Châu, UBND tỉnh Lai Châu phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị Phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh.
Hướng tới Hội nghị, Báo Nông nghiệp và Môi trường thực hiện chuyên đề Khát vọng Lai Châu xanh, phản ánh toàn diện bức tranh ngành nông nghiệp và môi trường Lai Châu với những chiến lược, khát vọng phát triển xanh và bền vững.

Nghề nuôi cá nước lạnh ở Lai Châu. Ảnh: Đăng Bình.
TS Lê Thanh Lựu, Giám đốc Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS), nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I đã có bài tham luận về phát triển cá nước lạnh hướng tới thị trường trung, cao cấp bền vững.
Theo TS Lê Thanh Lựu, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, nghề nuôi cá nước mát, nước lạnh đã từng bước khẳng định vai trò trong ngành thủy sản, đặc biệt tại vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Không chỉ tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, nghề nuôi cá nước lạnh còn mở ra hướng sinh kế mới cho người dân vùng cao, góp phần khai thác hiệu quả nguồn nước lạnh tự nhiên, đồng thời gắn với bảo vệ môi trường và tài nguyên rừng.
Dấu mốc quan trọng của nghề nuôi cá nước lạnh được ghi nhận từ năm 2005 khi Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (nay là Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam) đưa hai loài cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) và cá tầm Xiberia (Acipenser baerii) vào nuôi thử nghiệm tại Sa Pa. Thành công bước đầu đã mở ra triển vọng lớn, tạo nền tảng cho việc phát triển nghề nuôi cá nước lạnh trên phạm vi rộng.
Từ những mô hình ban đầu, đến nay nghề nuôi cá nước lạnh đã phát triển với nhiều đối tượng nuôi đa dạng gồm các loài cá hồi, cá tầm và các dòng lai có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và nguồn nước tại Việt Nam. Các vùng nuôi tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên, nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp.

Việt Nam cần mở rộng nuôi cá nước lạnh gắn với kinh tế xanh, hướng tới thị trường cao cấp trong và ngoài nước. Ảnh: Văn Thao.
Sản lượng cá hồi hiện đạt khoảng 400 – 500 tấn mỗi năm, trong khi cá tầm đạt từ 4.500 – 5.000 tấn, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 10%/năm. Tuy nhiên theo TS Lê Thanh Lựu, con số này mới chỉ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu trong nước. Phần còn lại vẫn phải bù đắp bằng nhập khẩu, chủ yếu là cá hồi từ các nước phát triển và cá tầm từ Trung Quốc.
Điều đó cho thấy dư địa phát triển của ngành hàng này còn rất lớn. Nếu được đầu tư đúng hướng, sản lượng cá nước lạnh hoàn toàn có thể đạt 10.000 – 12.000 tấn trong vòng 5 đến 10 năm tới, không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn hướng tới xuất khẩu vào các thị trường cao cấp.
Dù vậy, thực tế phát triển cũng cho thấy nhiều hạn chế. Công nghệ nuôi hiện nay dù đã được định hình nhưng vẫn chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ với các hình thức nuôi trong bể, hồ ngoài trời hoặc hệ thống nước chảy. Năng suất đạt trung bình 15 – 20kg/m³ nước, sử dụng thức ăn công nghiệp, song sản phẩm chủ yếu vẫn tiêu thụ dưới dạng tươi sống, chưa tạo được giá trị gia tăng cao.
Một trong những thách thức lớn nhất là sự phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu. Hiện nay, khoảng 80 – 85% con giống vẫn phải nhập từ nước ngoài, chủ yếu dưới dạng trứng đã thụ tinh. Việc này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tiềm ẩn rủi ro về chất lượng và nguồn cung.
Bên cạnh đó, nuôi cá nước lạnh còn thiếu sự liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị. Từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ chưa được tổ chức đồng bộ khiến sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước còn hạn chế. Công nghiệp chế biến sâu chưa phát triển cũng là nguyên nhân khiến giá trị sản phẩm chưa được khai thác tối đa.

Nuôi cá nước lạnh tại Việt Nam đứng trước cơ hội lớn nhưng còn nhiều nút thắt cần tháo gỡ. Ảnh: Văn Thao.
Tại xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu, nghề nuôi cá nước lạnh được duy trì và phát triển với tổng thể tích nuôi toàn xã đạt 21.870m³, sản lượng ước 197 tấn trong năm 2025. Mặc dù nghề nuôi cá nước lạnh đã phát triển mạnh, mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân nhưng vẫn tiềm ẩn không ít rủi ro.
Trước hết là tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu. Mưa lũ, sạt lở đất và sự biến động nguồn nước đã gây thiệt hại nặng nề cho nhiều cơ sở nuôi. Trong điều kiện nuôi phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tự nhiên, những biến động này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất.
Không chỉ vậy, biến động giá cả thị trường cũng tạo áp lực lớn cho người nuôi. Từ cuối năm 2024, giá cá tầm giảm mạnh, chỉ còn hơn 100.000 đồng/kg, thấp hơn nhiều so với mức 170.000 – 180.000 đồng/kg trước đó. Trong khi đó, chi phí đầu vào, đặc biệt là thức ăn và con giống lại không ngừng tăng cao khiến lợi nhuận của người nuôi bị thu hẹp đáng kể.
Những khó khăn này cho thấy rõ các nút thắt mà TS Lê Thanh Lựu đã chỉ ra: từ phụ thuộc nguồn giống, công nghệ nuôi chưa hiện đại đến việc thiếu tổ chức chuỗi và công tác quản lý thị trường chưa hiệu quả. Nếu không sớm tháo gỡ, ngành hàng này sẽ khó đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

Nuôi cá nước lạnh ở Lai Châu – hướng sinh kế hiệu quả và bền vững cho người dân. Ảnh: Văn Thao.
Để vượt qua thách thức, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là đẩy mạnh nghiên cứu, từng bước chủ động sản xuất giống trong nước. Sự liên kết giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong việc phát triển đàn cá bố mẹ, hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo sẽ là chìa khóa để giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Song song đó, việc ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến như hệ thống tuần hoàn (RAS) hay mô hình aquaponic sẽ giúp nâng cao năng suất, giảm thiểu tác động môi trường và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Đây cũng là hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường cao cấp.
Một giải pháp quan trọng khác là tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Khi các khâu từ cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ được liên kết chặt chẽ, sản phẩm sẽ có tính cạnh tranh cao hơn, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc.
Phát triển công nghiệp chế biến sâu cũng cần được chú trọng nhằm đa dạng hóa sản phẩm, từ thực phẩm tươi sống đến các sản phẩm giá trị gia tăng cao. Khi đó, người nuôi sẽ được hưởng lợi từ giá trị sản phẩm thay vì chỉ phụ thuộc vào giá bán nguyên liệu.

Với tiềm năng phát triển nghề nuôi cá nước lạnh, tỉnh Lai Châu đã đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, chủ động giống để phát triển bền vững cá nước lạnh. Ảnh: Văn Thao.
Từ thực tiễn tại Lai Châu, việc quy hoạch vùng nuôi hợp lý, đầu tư hạ tầng cấp nước ổn định và xây dựng cơ chế tín dụng ưu đãi là những yếu tố then chốt giúp người dân yên tâm đầu tư. Bên cạnh đó, công tác đào tạo kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước cũng cần được đẩy mạnh.
Có thể khẳng định, cá nước mát, nước lạnh là ngành hàng có nhiều tiềm năng, không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần phát triển bền vững vùng miền núi. Tuy nhiên, để vươn tới phân khúc trung, cao cấp trong nước và quốc tế, nghề nuôi các nước lạnh cần một chiến lược phát triển dài hạn với những giải pháp đồng bộ, quyết liệt và phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Nếu làm được điều đó, cá nước lạnh Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra bước đột phá mới, khẳng định vị thế trên thị trường và trở thành ngành hàng có giá trị cao trong tương lai.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
