Chính phủ vừa đề xuất sửa đổi 10 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, cắt giảm 40 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 12 thủ tục, giảm 40 điều kiện kinh doanh.
Trước những thay đổi mạnh mẽ này, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với GS.TS Nguyễn Văn Tuất – Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam (VNPPA) về những vấn đề liên quan đến nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ, đặc biệt là thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học trong thời gian tới.

GS.TS Nguyễn Văn Tuất – Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam (VNPPA). Ảnh: Tùng Đinh.
Giải quyết dịch hại cấp bách
Theo GS.TS Nguyễn Văn Tuất, tốc độ đăng ký thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học đã tăng nhanh trong vòng 3 năm gần đây. Các doanh nghiệp cũng đang chủ động chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng này từ công nghệ, nhập khẩu đến xây dựng các mô hình đồng ruộng hướng dẫn cho nông dân.
Ông cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ tạo điều kiện gỡ bỏ các rào cản hành chính thông thường để tập trung vào thực chất hiệu quả kỹ thuật trên đồng ruộng và chất lượng nông sản. Việc đơn giản hóa thủ tục mang lại nhiều kỳ vọng trong giải quyết dịch hại tức thời và cấp bách.
Thủ tục đơn giản giúp đưa nhanh các loại thuốc vào sử dụng ngay khi xuất hiện các dịch hại mới nổi hoặc dịch hại ngoại lai xâm lấn đột xuất trên đồng ruộng mà không cần chờ đợi thông qua các hội đồng chuyên môn kéo dài gây chậm trễ. Tuy nhiên, cần có sự phân cấp rõ ràng ở từng cấp quản lý để quyết định sử dụng tức thời các sản phẩm này.
Việc cởi mở thủ tục có thể giải phóng nhiều kết quả nghiên cứu từng bị “cất gầm bàn”, khuyến khích đưa các sản phẩm chiết xuất từ thảo dược bản địa, cây có hoạt tính sinh học của Việt Nam ra thương mại hóa nhanh chóng.

Việc cắt giảm thủ tục hành chính giúp đưa các sản phẩm BVTV vào sử dụng sớm, hiệu quả trước các dịch hại cấp bách. Ảnh: Tùng Đinh.
Đối với các loại thuốc BVTV được nghiên cứu và sản xuất từ nguồn vi sinh vật bản địa tại Việt Nam, cơ quan quản lý chỉ cần đánh giá tính an toàn sinh học đạt yêu cầu, rút ngắn thời gian đăng ký để đưa vào sử dụng sớm.
Thúc đẩy công nghệ sẽ giúp giảm lượng sử dụng thuốc BVTV và chi phí sản xuất. Công nghệ mới giúp giảm lượng sử dụng từ mức 3 – 5kg xuống chỉ còn 1kg thuốc BVTV trên mỗi ha hoặc ít hơn đối với các chế phẩm sử dụng sinh vật sống do tỷ lệ cơ chất cao. Điều này giải quyết trực tiếp nỗi lo lớn nhất của các doanh nghiệp kinh doanh thuốc sinh học là chi phí lưu kho bãi lớn do thuốc sinh học có hiệu lực ngắn, chỉ từ 1 đến 2 năm.
Đồng thời, liều lượng nhỏ giúp giảm chi phí hậu cần, người dân ở vùng núi cao, vùng sâu dễ dàng vận chuyển, mang vác lên nương rẫy thay vì phải mang hàng chục kg như trước.
Những thay đổi này sẽ góp phần thực hiện chủ trương phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học giai đoạn 2021 – 2025 và các năm tiếp theo, hướng tới mục tiêu đạt tỷ lệ 30% thuốc BVTV đăng ký là thuốc sinh học, 20% lượng thuốc sử dụng trên thực tế là thuốc sinh học.
Vai trò của hậu kiểm
Khi điều kiện kinh doanh được cắt giảm để tạo sự thông thoáng, việc kiểm soát chất lượng dịch vụ trên thị trường cần được chuyển dịch sang cơ chế hậu kiểm chặt chẽ.
Ví dụ cần khuyến khích việc ghi chép nhật ký điện tử theo thời gian thực đối với các hộ sản xuất và thương lái. Ban quản lý các chợ đầu mối cần kiểm soát chặt chẽ hợp đồng và truy xuất nguồn gốc nông sản, kiên quyết từ chối tiếp nhận các lô hàng không rõ nguồn gốc. Khi tất cả các khâu trong chuỗi đều phải chịu trách nhiệm pháp lý và danh dự, người dân sẽ không dám làm ẩu hoặc sử dụng thuốc sai hướng dẫn.

GS.TS Nguyễn Văn Tuất nhấn mạnh vai trò hậu kiểm khi cắt giảm các thủ tục hành chính. Ảnh: Tùng Đinh.
Theo ông Nguyễn Văn Tuất, cần xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất nông sản an toàn, xanh và có trách nhiệm. Hội sẽ tham gia tích cực vào quá trình đánh giá mối liên kết này, kiểm tra việc thực hiện các quy trình kỹ thuật và giám sát các biện pháp khắc phục rủi ro liên quan đến sinh vật gây hại.
VNPPA sẽ tập hợp các chuyên gia đầu ngành, cùng tham gia biên soạn các bài giảng chuẩn về quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), nông nghiệp xanh và chuyển đổi số. Tài liệu này sẽ cập nhật các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ viễn thám để phát hiện sớm sâu bệnh và các phương pháp sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả.
Ngoài ra, sẽ phối hợp tập huấn, hướng dẫn các cán bộ ở cấp xã để ứng dụng công nghệ số nhằm khai thác cơ sở dữ liệu chuyên môn phục vụ công tác chỉ đạo sản xuất trực tiếp tại địa bàn xã.
GS.TS Nguyễn Văn Tuất cũng kiến nghị Nhà nước hỗ trợ xây dựng bản đồ rủi ro dịch hại cho từng vùng trồng và từng cây trồng lợi thế của mỗi địa phương.
Hệ thống cơ sở dữ liệu chính thống này phải được số hóa thành các phần mềm hoặc ứng dụng di động để người dân chủ động tra cứu thông tin dịch hại và giải pháp xử lý tức thời, tránh tình trạng phải ra đại lý thuốc BVTV để hỏi và bị các đại lý này tư vấn thiên lệch nhằm mục đích bán hàng.
Trong trường hợp xuất hiện sâu bệnh lạ hoặc vượt quá khả năng tra cứu của phần mềm, người dân hoặc cán bộ kỹ thuật địa phương có thể gọi điện trực tiếp cho các chuyên gia của Hội để được tư vấn và hỗ trợ giải pháp kịp thời.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần đầu tư xây dựng một hệ thống AI được huấn luyện riêng bằng cơ sở dữ liệu nghiên cứu và quy trình kỹ thuật thực tế của Việt Nam.
Điều này giúp cung cấp các câu trả lời chính xác, có nguồn gốc rõ ràng cho người dân khi tra cứu các dịch hại đặc thù thay vì sử dụng các AI thương mại chung trên mạng thường bị thiếu thông tin hoặc đưa ra giải pháp không có nguồn xác thực.

Các giải pháp BVTV có thể được xây dựng thành cơ sở dữ liệu để nông dân dễ quy cập, sử dụng. Ảnh: Tùng Đinh.
Thúc đẩy hợp tác, chuyển giao giữa nhà khoa học và doanh nghiệp
Để thích ứng với điều kiện kinh doanh mới và xu hướng tiêu dùng bền vững, GS.TS Nguyễn Văn Tuất cho rằng các doanh nghiệp bắt buộc phải đổi mới công nghệ để tránh bị tụt hậu.
Hiện nay, trong số 99 nhà máy sản xuất thuốc BVTV trên cả nước có 85 nhà máy sản xuất được thuốc BVTV sinh học. Với vai trò cầu nối, Hội sẽ thực hiện các hoạt động khuyến khích và thúc đẩy mục tiêu tăng thêm 15% số doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất thuốc sinh học.
Bên cạnh đó, Hội sẽ duy trì tổ chức các hội thảo khoa học để tổng kết các hoạt động nghiên cứu, chia sẻ các công nghệ mới và thảo luận sâu về khả năng ứng dụng thực tế. Qua đó, các vấn đề phát sinh trong sản xuất có thể được tháo gỡ kịp thời cho cả doanh nghiệp lẫn cán bộ quản lý chuyên môn.
Thời gian tới, doanh nghiệp và nhà khoa học sẽ tập trung hợp tác chuyển giao các giải pháp quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) từ gốc. Trong đó nhấn mạnh vai trò của giống kháng, công nghệ kích kháng tự nhiên của cây trồng, các biện pháp dinh dưỡng giúp cây khỏe mạnh và ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen thế hệ mới nhằm kiểm soát toàn bộ chu kỳ phát triển của cây trồng thay vì chỉ tập trung phun thuốc dập dịch.
Để hỗ trợ doanh nghiệp đón đầu phân cấp quản lý tại địa phương, Hội sẽ hỗ trợ kết nối doanh nghiệp sở hữu công nghệ tiên tiến với các địa phương để khảo nghiệm và phát triển các sản phẩm sinh học phù hợp với đặc thù sản xuất của từng tỉnh.

Thời gian tới, doanh nghiệp và nhà khoa học sẽ tập trung hợp tác chuyển giao các giải pháp quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) từ gốc. Ảnh: Tùng Đinh.
Hiểu đúng về cắt giảm thủ tục hành chính
GS.TS Nguyễn Văn Tuất cho rằng truyền thông trong giai đoạn tới phải giúp các hội viên và doanh nghiệp hiểu đúng rằng đơn giản hóa thủ tục hành chính là để thúc đẩy sản xuất xanh và chuyển đổi số, đòi hỏi trách nhiệm của doanh nghiệp phải cao hơn chứ không phải là giảm bớt sự quản lý của cơ quan chuyên môn.
Cần đẩy mạnh tuyên truyền để các đối tác trong chuỗi giá trị, từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp sản xuất, đại lý bán thuốc, thương lái, tiểu thương chợ đầu mối cho đến nông dân trực tiếp sản xuất tự nguyện thực hiện đúng các cam kết kỹ thuật.
Ông Tuất cho biết Hội sẽ truyền thông và đề xuất hướng dẫn các đại lý buôn bán thuốc BVTV phải thực hiện niêm yết công khai bảng danh mục sản phẩm đang bán rõ ràng theo hai nhóm.
Trong đó, nhóm màu xanh bao gồm các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học an toàn, nhóm màu vàng bao gồm các loại thuốc thuộc nhóm hóa chất hóa học.
Việc niêm yết minh bạch này giúp người dân dễ dàng nhận biết, so sánh giá cả, tác dụng và ưu tiên lựa chọn các giải pháp sinh học an toàn trước.
GS.TS Nguyễn Văn Tuất nhấn mạnh sẽ định hướng hội viên và doanh nghiệp thực hiện đồng bộ các biện pháp trong các đề án quốc gia lớn, bao gồm Đề án Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), Đề án phát triển thuốc BVTV sinh học, Đề án sức khỏe đất và Đề án Một sức khỏe nhằm tạo ra sản phẩm an toàn, hiệu quả và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
