Ngày 23/6, UBND TP.HCM tổ chức cuộc họp nghe báo cáo Kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến 2045. Mục tiêu nhằm rà soát định hướng và thống nhất giải pháp phát triển theo hướng tích hợp, bền vững, phù hợp không gian thủy vực mới của thành phố.
Định hình lại không gian phát triển thủy sản
Theo ông Lê Tôn Cường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và kiểm ngư TP.HCM, thành phố có hơn 330km bờ biển, vùng biển khoảng 300.000km² cùng hệ thống thủy vực phong phú. Diện tích nuôi trồng thủy sản của thành phố đạt trên 13.200 ha, sản lượng hơn 72.500 tấn mỗi năm và năng lực sản xuất khoảng 35 tỷ con giống các loại.

Lãnh đạo TP.HCM chủ trì cuộc họp về kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026 – 2030, định hướng tích hợp không gian biển – sông – hồ. Ảnh: Lê Bình.
Từ nền tảng này, TP.HCM không còn tiếp cận phát triển thủy sản theo từng chương trình rời rạc, mà hướng đến một chiến lược tích hợp tổng thể cho giai đoạn 2026 – 2030.
Bà Phạm Thị Na, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM cho biết, thành phố hợp nhất hai chương trình vốn trước đây tách biệt gồm nuôi trồng thủy sản và nuôi biển thành một kế hoạch thống nhất. “Cách tiếp cận mới nhằm đồng bộ hóa quy hoạch không gian, tránh chồng lấn và tạo ra một hệ sinh thái quản lý xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ”, bà Na thông tin.
Trên cơ sở định hướng đó, TP.HCM xác định ba không gian phát triển trọng tâm. Không gian biển được xem là trụ cột lớn nhất, không chỉ là vùng nuôi trồng mà còn là không gian tổng hợp của kinh tế biển, bao gồm: khai thác hải sản, logistics, hàng hải, năng lượng và du lịch.
Không gian sông, đặc biệt là hệ thống sông Đồng Nai, tiếp tục giữ vai trò quan trọng với nhiều mô hình nuôi truyền thống đang chuyển đổi sang hướng công nghệ cao. Trong khi đó, các hồ chứa được xác định là không gian khép kín, đòi hỏi cơ chế quản lý riêng biệt, chặt chẽ hơn về môi trường và an toàn sinh thái.
UBND TP.HCM yêu cầu ngành thủy sản thành phố rà soát lại toàn bộ không gian thủy sản theo hướng “nhìn tổng thể nhưng quản trị chi tiết”. Việc phân tách rõ ba nhóm không gian không chỉ giúp quy hoạch hiệu quả hơn mà còn tránh tình trạng khai thác tự phát, thiếu kiểm soát như thời gian qua.
Thành phố cũng đang kiến nghị Trung ương nghiên cứu xác lập ranh giới hành chính trên biển giữa các địa phương, nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn trong quản lý, cấp phép và giám sát hoạt động kinh tế biển. Đây được xem là một bước đi quan trọng trong bối cảnh không gian biển ngày càng trở thành động lực phát triển mới.
Công nghệ cao, sinh thái cân bằng và thị trường rộng mở
Nếu như tư duy quy hoạch là nền tảng, thì công nghệ và thị trường được xác định là hai trụ cột để đưa ngành thủy sản TP.HCM bước sang giai đoạn phát triển hiện đại. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo thành phố, điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở cách tiếp cận sinh thái chưa toàn diện.

Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Bùi Minh Thạnh nhấn mạnh yêu cầu phát triển hài hòa giữa nuôi trồng thủy sản và cân bằng sinh thái. Ảnh: Lê Bình.
Ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM chỉ rõ: phần lớn các chương trình hiện nay vẫn tập trung vào “nuôi” mà chưa chú trọng đúng mức đến “trồng” thủy sinh. Ông Thạnh cho rằng, nếu chỉ mở rộng mật độ nuôi, phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp mà không quan tâm đến cân bằng sinh thái thì rủi ro môi trường sẽ tăng cao, thậm chí phá vỡ hệ cân bằng tự nhiên vốn rất mong manh của các vùng nước.
“Quan điểm này được cụ thể hóa bằng định hướng phát triển đa dạng hệ sinh thái thủy sản, trong đó không chỉ có các đối tượng nuôi truyền thống mà còn mở rộng sang rong biển, vi tảo, thủy sinh cảnh, thủy sản phục vụ mỹ nghệ và dược liệu biển. Đây được xem là hướng đi mới, vừa gia tăng giá trị kinh tế, vừa góp phần tái tạo môi trường nước”, ông Thạnh bày tỏ.
Thành phố cũng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chặt chẽ các loài ngoại lai xâm hại như ốc bươu vàng hay rùa tai đỏ, nhằm tránh nguy cơ phá vỡ đa dạng sinh học bản địa vốn đang chịu nhiều áp lực.
Thực trạng nuôi trồng tự phát tại một số khu vực như hồ Dầu Tiếng hay vùng biển Cần Giờ đang đặt ra yêu cầu cấp bách về siết chặt kỷ cương. Không ít trường hợp người dân tự phát phát triển bè nuôi hoặc vùng nuôi quy mô lớn nhưng chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý sự cố môi trường.
Trước thực tế đó, TP.HCM xác định ba nhóm giải pháp trọng tâm. “Trước hết là tăng cường tuyên truyền, minh bạch hóa thông tin quy hoạch và quy định pháp luật để người dân nắm rõ lộ trình thực hiện. Tiếp theo là chuẩn hóa toàn bộ thủ tục đăng ký, kê khai vùng nuôi, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát sau cấp phép. Cuối cùng là tháo gỡ các rào cản ở cấp vĩ mô, đặc biệt là cơ chế giao và cho thuê mặt nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn lực”, ông Thạnh chỉ đạo.
Một trụ cột quan trọng khác là chuyển đổi sang mô hình nuôi trồng công nghệ cao. Theo bà Phạm Thị Na, đây không chỉ là thay đổi về kỹ thuật mà còn là sự chuyển dịch về lực lượng lao động. Người nuôi trong tương lai cần được trang bị kiến thức vận hành thiết bị, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Các mô hình kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch trải nghiệm, như các bè cá trên sông Chà Và, sẽ tiếp tục được mở rộng. Đây không chỉ là kênh tiêu thụ sản phẩm mà còn là cách gia tăng giá trị dịch vụ và quảng bá hình ảnh ngành thủy sản đô thị.

Kế hoạch nuôi trồng thủy sản TP.HCM gắn với định hướng quy hoạch lại không gian phát triển theo hướng bền vững và đa giá trị, ứng dụng công nghệ cao và kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và bảo vệ hệ sinh thái. Ảnh: Lê Bình.
Về nguồn lực đầu tư, dù các địa phương đã đề xuất khoảng hơn 7 tỷ đồng cho giai đoạn đầu, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM khẳng định, ngân sách nhà nước chỉ đóng vai trò “vốn mồi”. Trọng tâm vẫn là thu hút doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư dài hạn, tạo động lực phát triển bền vững.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
