Chạy dọc con đường hướng về khu vực Nông trường chè Sông Cầu cũ, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. Phía sau tấm biển Công ty chè Sông Cầu đã ám màu thời gian là những cánh cửa sắt gỉ sét, đóng im lìm. Đi sâu vào các ngôi làng, những đồi chè cỏ dại mọc um tùm nằm xen giữa những vạt keo đã phủ lên nền chè cũ. Vùng đất từng được coi là “đế chế chè”, là đứa con đầu lòng của danh trà xứ Thái giờ mang dáng vẻ khác xa những năm tháng huy hoàng.
Giữa khung cảnh ấy, anh Nguyễn Đức Trọng – Trưởng Ban quản lý làng nghề chè xóm 9, xã Đồng Hỷ, Thái Nguyên nhớ về trò chơi thuở nhỏ.
Ngày ấy, lũ trẻ thường rình lúc không ai để ý, chặt trộm một đoạn chè giống cao quá đầu người, đẽo thành con quay. Những hàng chè giống cao 3 – 4 mét từng mọc dọc các lô chè không phải để thu hái. Chúng được giữ lại để che mát cho búp chè vừa hái, hạn chế héo và giữ đất khỏi bị rửa trôi. Một vùng đồi được quy hoạch đến từng chi tiết nhỏ, từ cách trồng chè đến việc bảo vệ đất.

Dấu tích còn sót lại sau thời thanh thế của chè sông Cầu. Ảnh: Minh Toàn.
Giờ đây, những hàng chè giống ấy phần lớn chỉ còn trong ký ức của người đàn ông đã ngoài 40 tuổi. Trên nhiều triền đồi từng xanh màu chè, cây keo đã mọc lên. Cảnh vật đổi thay, còn câu chuyện về một nông trường từng nuôi sống hàng nghìn lao động vẫn được những người gắn bó với vùng đất này nhắc lại như một phần ký ức không dễ phai.
Thời thanh thế
Nông trường chè Sông Cầu ra đời năm 1964 gồm 13 đội sản xuất, trải rộng qua nhiều xã, thị trấn. Theo lời anh Trọng, quy mô nông trường khi ấy lớn hơn nhiều vùng chè về sau nổi tiếng khắp cả nước. Người từ nhiều nơi, đông nhất là Thái Bình, rồi Hưng Yên, Nam Định, Bắc Ninh, Phú Thọ, Yên Bái… kéo lên khai hoang, xây dựng vùng sản xuất. Người bản địa khi ấy chỉ lác đác vài hộ.
Từ những cuộc khai hoang, một cộng đồng cư dân dần hình thành. Thị trấn Sông Cầu, theo lời kể của anh Trọng cũng được sinh ra từ nông trường. Người tứ xứ đến làm việc, gặp gỡ, kết duyên, mang theo những phong tục và nếp sống khác nhau rồi cùng gây dựng cuộc sống trên vùng đất mới. Bố mẹ anh cũng nên duyên từ nông trường ấy. Với nhiều gia đình, cây chè không chỉ là công việc mà còn là sợi dây gắn kết họ với Sông Cầu.
Những năm đầu, nông trường trải qua những biến cố khắc nghiệt. Năm 1972, máy bay Mỹ từng ném bom xuống khu vực này. Hố bom in dấu trên những đồi chè, có người suýt mất mạng ngay trên luống đất mình đang cày. Sau những năm tháng chiến tranh, đất vẫn tiếp tục được trồng chè, những lô chè lại được chăm sóc, thu hái. Cuộc sống người lao động tiếp tục xoay quanh những đồi chè đã trở thành một phần của vùng đất.

Không ít tài sản của anh Trọng được tích cóp trong quá trình làm việc tại nông trường chè Sông Cầu. Ảnh: Minh Toàn.
Trong ký ức anh Trọng, quãng thời gian từ năm 1998 đến 2008 là thời vàng son của nông trường. Việc hợp tác kỹ thuật với Nhật Bản đưa hoạt động chế biến vào giai đoạn sôi động. Ba dây chuyền chạy liên tục ngày đêm, lượng chè tươi đưa về nhà máy có những ngày lên tới hàng chục tấn. Anh Trọng nhớ lại: “Có những ngày cao điểm, nhà máy nhận tới 70 tấn chè tươi, cho ra 12 – 15 tấn chè khô. Chè theo tàu đi Nhật, đi Afghanistan, Iraq, Đức, Nga, tỏa khắp Châu Âu”.
Không chỉ là những con số về sản lượng, thời vàng son còn hiện lên trong cách người công nhân nhớ về đồng lương và cuộc sống gia đình. Theo anh Trọng, khi ấy lương công nhân khoảng 5 – 6 triệu đồng mỗi tháng, trong khi vàng chỉ khoảng 2 triệu đồng/chỉ, 1kg chè tươi được thu mua với giá 2.000 đồng, còn 1kg phân đạm có giá khoảng 4.000 đồng.
“Một chiếc xe máy Loncin giá khoảng 12 triệu đồng, công nhân chúng tôi chơi họ với nhau khoảng 2 tháng là ai cũng có xe Loncin để đi. Chiếc xe Dream Thái khi đó giá khoảng 36 triệu, dân ở đây mua được hết”, anh Trọng kể.
Những ngày đảo chè mệt lử, những ca làm nối tiếp nhau và công việc nặng nhọc không khiến người công nhân quên niềm tự hào về nơi mình làm việc. Nông trường đem lại thu nhập đều đặn, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương và những gia đình đã gắn đời mình với cây chè. Trong một thời gian dài, nhịp sống của Sông Cầu được giữ bằng nhịp sản xuất của nông trường.
Những đồi chè lặng im
Nhưng thời vàng son ấy không kéo dài mãi. Giai đoạn 2008 – 2012, quá trình tái cơ cấu diễn ra, nông trường tan rã, đất đai được giao về cho người dân. Khi mô hình sản xuất cũ không còn, người trồng chè phải tự xoay xở với việc chăm sóc, thu hái và tìm đầu ra cho sản phẩm.
Giá chè tươi có thời điểm xuống còn 500 đồng/kg. Với mức giá ấy, công hái chè không đáng là bao. Một số người phá chè để trồng ngô, trồng bưởi hoặc chuyển sang công việc khác. Anh Trọng cũng rời nghề suốt 7 năm, đi vác gỗ keo, buôn thuốc trừ sâu để lo cho gia đình.
Sự thay đổi không chỉ nằm ở những lô chè bị phá bỏ. Khi nông trường từng gắn kết nhiều khâu sản xuất không còn, người dân phải tự tìm cách duy trì sinh kế trên phần đất của mình. Những đồi chè không còn được chăm sóc dần bị cỏ dại lấn át, ở những nơi khác, cây keo thay thế cây chè. Những vạt keo mọc trên nền đồi chè cũ trở thành dấu tích của một giai đoạn chuyển đổi.

Anh Trọng với kỳ vọng làm sống dậy một thời vang bóng bằng cách tạo đời sống mới cho cây chè. Ảnh: Minh Toàn.
Theo ước tính của anh Trọng, đến nay, khoảng 1/3 diện tích chè của nông trường cũ vẫn nằm dưới những vạt keo hoặc cỏ dại. Điều đáng tiếc là người vẫn còn, đất vẫn còn, nghề chăm chè, sao chè cũng chưa mất đi. Những kỹ năng đã truyền qua nhiều thế hệ vẫn nằm trong tay người dân, dù một phần diện tích từng nuôi sống họ đã rời khỏi vòng quay sản xuất chè.
Với những người từng chứng kiến thời vàng son, nhìn những đồi chè bị bỏ hoang không đơn thuần là nhìn một loại cây trồng biến mất. Đó còn là nhìn lại một phần lịch sử của vùng đất, nơi công việc, cuộc sống và những mối duyên của nhiều gia đình từng bắt đầu từ nông trường.
Trên những triền đồi Sông Cầu hôm nay, những vạt keo đã phủ lên nền chè cũ, dấu tích của nông trường hiện ra sau những cánh cửa sắt đóng im lìm. Một thời vàng son vẫn được kể lại qua ký ức của những người từng sống và làm việc ở đó. Nhưng để những đồi chè xanh trở lại, ký ức thôi chưa đủ. Vùng đất từng làm nên danh tiếng chè Sông Cầu vẫn còn đó, cùng những câu hỏi về tương lai của những diện tích chè đã bị lãng quên.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
