Thay đổi cách làm
Trong bức tranh chung của ngành thủy sản, nuôi tôm nước lợ vẫn là lĩnh vực chịu nhiều tác động từ thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Năm 2025, sản lượng tôm nuôi của Đà Nẵng đạt gần 30.000 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn lan rộng ở nhiều địa phương, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh đó, nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao được xem là hướng đi tất yếu, buộc người nuôi chuyển dần từ phương thức truyền thống sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật hiện đại.

Trại nuôi tôm công nghệ cao của ông Phạm Đình Chương (thôn Hồng Triều, xã Duy Nghĩa). Ảnh: L.A.
Tận dụng nguồn nước biển sạch, thời gian qua, nhiều mô hình nuôi tôm tại các xã ven biển của Đà Nẵng như Duy Nghĩa, Thăng Trường, Tam Anh, Tam Xuân, Núi Thành… đã đầu tư hệ thống xử lý nước qua nhiều giai đoạn bằng công nghệ hiện đại để cấp cho các ao ương giống và ao nuôi thương phẩm. Các cơ sở áp dụng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 – 3 giai đoạn, kết hợp kỹ thuật tách chất thải rắn, tuần hoàn nước.
Hệ thống tuần hoàn khép kín cho phép nước thải từ ao nuôi được xử lý qua các công đoạn lắng, lọc cơ học, bổ sung vi sinh nhằm loại bỏ chất bẩn, khí độc, sau đó cấp trở lại ao nuôi. Nhờ đó, mô hình giúp tiết kiệm nước, hạn chế dịch bệnh, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời nâng cao năng suất và hiệu quả đầu tư.
Mô hình nuôi tôm của ông Phạm Đình Chương (thôn Hồng Triều, xã Duy Nghĩa) là điển hình trong việc chuyển đổi sang công nghệ hiện đại. Trước đây, gia đình ông nuôi ao đất, không mái che, mật độ cao nên hiệu quả không ổn định, rủi ro dịch bệnh lớn. Khi chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao, ông đầu tư 20 ao nuôi thiết kế dạng hình tròn, lót bạt, đồng thời bố trí hệ thống xử lý nước theo quy trình Biofloc nhằm kiểm soát môi trường nuôi.

Mỗi vụ nuôi, ông Chương xuất bán khoảng 50 tấn tôm nguyên liệu, đạt doanh thu hơn 10 tỷ đồng. Ảnh: L.A.
Với cách làm này, ở giai đoạn ương tôm giống, tỷ lệ tôm sống đạt hơn 90%. Trong quá trình ương nuôi, ông không thay nước mà chỉ bổ sung men vi sinh để duy trì môi trường ổn định, nhờ đó giảm hơn 1/3 lượng thức ăn so với các quy trình khác. Đối với nuôi thương phẩm, tôm có tỷ lệ hao hụt thấp, năng suất đạt hơn 40 tấn/ha, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Mỗi năm, mô hình của ông nuôi được 4 – 5 vụ, trong khi ao nuôi truyền thống chỉ khoảng 2 vụ/năm. Mỗi vụ sản lượng thu hoạch đạt khoảng 50 tấn. Với giá bán dao động từ 180.000 – 240.000 đồng/kg, doanh thu mỗi vụ đạt hơn 10 tỷ đồng. Tính từ khi chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao đến nay, tổng doanh thu đạt khoảng 100 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí lãi ròng hơn 36 tỷ đồng.
Theo ông Chương, thay đổi lớn nhất nằm ở tư duy sản xuất. Người nuôi không còn phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm mà chuyển sang tuân thủ quy trình kỹ thuật. Việc áp dụng mô hình nuôi tôm 2- 3 hai giai đoạn giúp kiểm soát tốt từ khâu ươm giống đến nuôi thương phẩm, hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao năng suất.
Chú trọng quan trắc nguồn nước
Tiếp cận nuôi tôm theo hướng công nghệ cao, ông Nguyễn Xuân Cần (thôn An Trân, xã Thăng Trường) lựa chọn bắt đầu từ việc kiểm soát chặt chẽ môi trường nước. Theo ông, cùng với con giống sạch bệnh, “nuôi nước” là yếu tố quyết định thành công của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng. Trên diện tích 10ha vùng ven biển, ông đầu tư 5 ao ương tôm giống (5.000m²/ao) và 15 ao nuôi tôm thương phẩm (3.000m²/ao), đồng thời áp dụng đồng bộ các giải pháp giám sát môi trường nuôi.

Ông Nguyễn Xuân Cần và thiết bị cảm biến thông minh đo trực tiếp các chỉ số như pH, nhiệt độ… trong ao nuôi tôm. Ảnh: L.A.
Trong đó, hệ thống quan trắc môi trường nước tự động được ông lắp đặt để giám sát liên tục 24/7 các chỉ số như kiềm, pH, oxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn… Thiết bị cảm biến thông minh đo trực tiếp các thông số trong ao nuôi, sau đó truyền dữ liệu qua kết nối 4G về điện thoại. Từ kết quả phân tích và cảnh báo của hệ thống, người nuôi có thể kịp thời điều chỉnh, xử lý, giảm rủi ro dịch bệnh.
“Nhiều khi tôi không có mặt ở ao nuôi tôm nhưng vẫn kịp thời cân bằng các yếu tố môi trường để tôm sinh trưởng tốt. Hệ thống giúp tiết kiệm thời gian, giảm chi phí sản xuất, nhất là nâng cao chất lượng nước để quyết định thành công mỗi vụ nuôi”, ông Cần cho biết.
Không dừng lại ở đó, ông Cần còn đầu tư hệ thống xi phông tầng đáy tự động cho toàn bộ ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Chỉ cần thao tác trên điện thoại thông minh, van xi phông sẽ tự động loại bỏ chất thải, thức ăn thừa và vỏ tôm dưới đáy ao, giúp môi trường nuôi luôn sạch. Nhờ hạn chế thao tác thủ công, mô hình giúp tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí thuê nhân công, đồng thời hạn chế việc phải xuống kiểm tra đáy ao như trước.

Các đơn vị tham quan các mô hình nuôi tôm công nghệ cao để nhân rộng thời gian tới. Ảnh: L.A.
Theo ông Cần, việc tối ưu hóa nguồn nước giúp tôm có điều kiện sinh trưởng thuận lợi, lớn nhanh và đồng đều. Đây là yếu tố cốt lõi trong nuôi tôm thâm canh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tôm thương phẩm.
Nhờ kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường như pH, kiềm, độ mặn, nhiệt độ…, tôm nuôi phát triển ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế cao, mỗi vụ nuôi lãi hàng chục tỷ đồng. Mô hình của ông Cần cho thấy bước tiến rõ nét trong ứng dụng công nghệ cao vào nuôi tôm nước lợ tại Đà Nẵng.
Qua thực tế tham quan các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, lãnh đạo thành phố Đà Nẵng ghi nhận hiệu quả nổi bật, đồng thời đánh giá đây là hướng phát triển bền vững, ít tác động đến môi trường. Thành phố đã giao Sở NN-MT cùng các sở, ngành, địa phương tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, nhân rộng các mô hình.
Ông Phạm Nam Sơn, Giám đốc Sở NN-MT TP Đà Nẵng cho biết, năm 2026, Thành phố tiếp tục khai thác tối đa tiềm năng để phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trong đó, nuôi tôm siêu thâm canh theo hướng xanh, công nghệ cao, cùng với liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân để hình thành chuỗi nuôi tôm khép kín, hiệu quả là định hướng phát triển trọng tâm trong thời gian tới.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
