Từ thói quen phun thuốc đến sản xuất có kỷ luật
Từ sáng sớm, khi sương đêm còn đọng trên những tán vải ở thôn Lân Thịnh, xã Phúc Hoà (tỉnh Bắc Ninh), vợ chồng ông Trần Văn Dinh và bà Nguyễn Thị Xoa đã có mặt ngoài vườn, đi từng gốc, kiểm tra những tấm màn trắng căng quanh tán cây.
Những tấm màn ấy là một phần trong mô hình thử nghiệm được gia đình ông phối hợp cùng cán bộ kỹ thuật địa phương và Công ty TNHH Dragon Berry International triển khai. Nhìn từ xa, vườn vải như một dãy nhà lưới thấp tầng trải dọc triền đồi. Đằng sau lớp màn trắng ấy là sự thay đổi rất lớn trong tư duy sản xuất: giảm can thiệp hoá chất, kiểm soát sâu bệnh theo hướng an toàn hơn.
“Trước cứ thấy sâu là phun, phun đẫm cho yên tâm. Giờ không được thế nữa. Họ test một cái mà vượt chỉ tiêu là cả container vải phải vứt đi. Một hộ làm sai thì cả mã vùng phải chịu hậu quả nên anh em bảo nhau, không ai dám làm liều”, ông Trần Văn Dinh nói.

Bà Nguyễn Thị Xoa cùng cán bộ Chi cục Trồng trọt và BVTV và đại diện Công ty TNHH Dragon Berry International kiểm tra tình hình sâu đục cuống quả vải. Ảnh: Phạm Minh.
Chia sẻ của ông Dinh cho thấy áp lực lớn nhất của những mùa vải hiện nay không chỉ là năng suất, mẫu mã hay giá bán. Đó là kỷ luật trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Với những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia hay Châu Âu, mỗi lô hàng đều phải vượt qua các quy định nghiêm ngặt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Một sai sót nhỏ ở một hộ dân có thể ảnh hưởng đến cả mã số vùng trồng, thậm chí khiến doanh nghiệp mất hợp đồng xuất khẩu.
Ở vườn ông Dinh, 18 cây vải được thử nghiệm che màn để hạn chế sâu đục cuống – một trong những đối tượng gây hại đáng lo nhất trên cây vải. Kết quả ban đầu cho thấy số lần phun thuốc giảm rõ rệt, sâu đục cuống được khống chế đáng kể. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật ở một hộ dân mà là hướng tiếp cận mới: bảo vệ thực vật không còn đồng nghĩa với phun thuốc nhiều mà là quản lý dịch hại tổng hợp, đúng thời điểm, đúng ngưỡng, đúng quy định thị trường.
Cán bộ kỹ thuật bám vườn, giữ chuẩn vùng trồng
Đằng sau mỗi vườn vải đạt chuẩn xuất khẩu là sự có mặt thường xuyên của lực lượng kỹ thuật. Ngay từ đầu vụ, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã thành lập Tổ chỉ đạo sản xuất vải thiều gồm 21 cán bộ chuyên môn, phân công bám sát các xã, phường trọng điểm. Lực lượng này phối hợp với các hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu hướng dẫn nông dân từ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đến giai đoạn cận thu hoạch.
Đến nay, Sở đã chỉ đạo xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn quy trình và danh mục thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với quy định của từng thị trường nhập khẩu. Đây là khâu then chốt bởi mỗi thị trường có yêu cầu riêng về hoạt chất được phép sử dụng, dư lượng tối đa cho phép và thời gian cách ly trước thu hoạch.
“Cái khó nhất không phải là dạy bà con dùng thuốc gì mà là giúp bà con thay đổi thói quen. Trước cứ thấy sâu là đánh thuốc, đánh trước cho chắc. Giờ phải nhìn lịch, nhìn thời gian cách ly, nhìn cả mã số vùng trồng. Sai một hộ, vạ cả vùng. Có khi mình phải xuống tận vườn, cầm tay chỉ việc bà con mới yên tâm”, chị Cáp Thị Cần, cán bộ Trạm Bảo vệ và Kiểm dịch số 4 (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Bắc Ninh) chia sẻ.

Cán bộ kỹ thuật cùng gia đình ông Dinh kiểm tra và tháo màn che chuẩn bị thu hoạch vải. Ảnh: Phạm Minh.
Những ngày cận thu hoạch là thời điểm áp lực lớn nhất. Cán bộ bảo vệ thực vật phải theo sát vườn, kiểm tra tình hình sâu bệnh, hướng dẫn xử lý trong trường hợp cần thiết và lấy mẫu phân tích dư lượng hóa chất trước khi thu hoạch. Việc giám sát nội bộ được duy trì chặt chẽ nhằm bảo đảm không hộ nào trong vùng trồng sử dụng thuốc sai quy định hoặc không đủ thời gian cách ly.
Hiện Bắc Ninh duy trì 241 mã số vùng trồng vải xuất khẩu với tổng diện tích 17.450ha, hướng đến các thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Australia, Hoa Kỳ và Thái Lan. Mỗi mã số vùng trồng là một cam kết tập thể. Trong đó nông dân không còn sản xuất đơn lẻ mà cùng chịu trách nhiệm với hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn.
Doanh nghiệp đồng hành từ đầu
Sự thay đổi trong quản lý bảo vệ thực vật cũng làm thay đổi cách doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất vải. Thay vì chỉ đến thu mua khi quả chín, nhiều doanh nghiệp đã vào cuộc từ đầu vụ, cùng cán bộ kỹ thuật theo dõi sâu bệnh, hướng dẫn quy trình chăm sóc, kiểm tra thời điểm thu hoạch phù hợp với từng thị trường.
“Khách hàng nước ngoài giờ không chỉ hỏi quả đẹp hay xấu nữa. Họ hỏi vùng trồng ai quản lý, lấy mẫu mấy lần một vụ, sai sót thì xử lý ra sao. Họ mua hệ thống, chứ không mua từng container”, đại diện Công ty TNHH Dragon Berry International cho biết.
Điều này phản ánh đúng bản chất cạnh tranh mới của trái vải Bắc Ninh. Thị trường nhập khẩu giờ không chỉ mua sản phẩm mà mua cả quy trình quản lý. Một quả vải đạt chuẩn là kết quả của chuỗi kiểm soát liên tục từ dự báo sâu bệnh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, lấy mẫu kiểm nghiệm, thu hoạch, sơ chế, làm mát nhanh đến đóng gói…

Ông Đỗ Văn Tuân (giữa) – chuyên viên Chi cục Trồng trọt và BVTV Bắc Ninh kiểm tra độ Brix (hàm lượng đường) trong quả vải. Ảnh: Phạm Minh.
Toàn tỉnh hiện có 42 cơ sở đóng gói xuất khẩu được cấp mã. Năm 2026, Bắc Ninh dự kiến đánh giá, cấp mới thêm 5 cơ sở để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng. Tuy nhiên, khâu đóng gói chỉ là mắt xích cuối. Chất lượng thực sự phải bắt đầu từ vườn, từ quyết định có phun thuốc hay không, phun loại gì, phun vào thời điểm nào và có bảo đảm thời gian cách ly trước thu hoạch hay không.
Từ câu chuyện của những tấm màn trắng ở Phúc Hoà đến đội ngũ cán bộ kỹ thuật bám vườn, từ mã số vùng trồng đến danh mục thuốc bảo vệ thực vật theo từng thị trường, có thể thấy trái vải Bắc Ninh đang bước vào giai đoạn sản xuất bằng kỷ luật và niềm tin.
Khi người trồng vải hiểu rằng một lần phun thuốc sai có thể làm mất cơ hội của cả vùng, cũng là lúc bảo vệ thực vật trở thành “hàng rào kỹ thuật” quan trọng nhất để giữ thương hiệu, giữ thị trường và nâng giá trị trái vải trên bản đồ nông sản thế giới.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
