Một cây giống, nhiều năm gửi gắm
Buổi sáng ở xã Nâm Nung (Lâm Đồng), những dải sương mỏng vẫn còn lững lờ trên các triền đồi cà phê. Tiếng máy cắt cỏ vang lên xen lẫn tiếng chim rừng, báo hiệu một ngày làm việc mới của nông dân.
Trong khu vườn rộng gần 2ha, ông Mai Hồng Quân, xã Nâm Nung chậm rãi đi giữa những hàng cà phê có độ tuổi khác nhau. Phía trên sườn đồi, những cây đã bước sang năm thứ ba bắt đầu bói những chùm quả đầu tiên. Dưới chân đồi, những hàng cà phê trồng từ năm ngoái đang vươn những đọt non xanh mướt. Còn một khoảnh đất vừa được dọn sạch cỏ, ông chuẩn bị xuống giống mới.

Ông Mai Hồng Quân, xã Nâm Nung kiểm tra mức độ đậu trái của vườn cà phê giống Xanh lùn mới được trồng năm thứ 3. Ảnh: Phạm Hoài.
Để có quyết định mở rộng diện tích hôm nay, ông Quân đã mất 3 năm quan sát và kiểm chứng trên chính mảnh đất của mình. Ba năm trước, khi cải tạo một phần diện tích cà phê già cỗi, ông quyết định chọn giống cà phê xanh lùn khoảng 1.000 cây. Thời điểm đó, không ít người khuyên ông nên lựa chọn những giống khác đang được quảng bá có năng suất cao. Thay vì chạy theo xu hướng, ông chọn cách tìm hiểu kỹ đặc tính từng giống, tham quan các mô hình sản xuất rồi mới quyết định.
Những cây đầu tiên phát triển ổn định, tán cân đối, sinh trưởng đồng đều và nay đã bắt đầu cho bói. Thấy giống thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, năm ngoái ông tiếp tục trồng thêm 1.200 cây. Đến năm nay, khi mùa mưa vừa ổn định, ông lại chuẩn bị xuống giống thêm 1.800 cây, nâng tổng số lên khoảng gần 4.000 cây.
“Trồng cà phê không giống như cây ngắn ngày. Chỉ cần chọn sai giống thì phải chấp nhận thiệt hại cả chục năm. Tôi không chọn theo lời quảng cáo mà chọn theo những gì cây thể hiện ngay trên vườn của mình. Sau 3 năm theo dõi, tôi thấy giống xanh lùn phù hợp nên tiếp tục mở rộng diện tích”, ông Quân chia sẻ.
Theo ông Quân, điều khiến ông quyết định gắn bó với giống này không đơn thuần là năng suất. Xã Nâm Nung nằm ở khu vực có độ cao khá lớn, nền nhiệt mát hơn nhiều vùng khác của Tây Nguyên. Trong điều kiện ấy, giống xanh lùn cho thấy khả năng thích nghi tốt, cây phát triển cân đối, tán thấp nên thuận lợi trong chăm sóc, cắt tỉa và thu hoạch. Khi bước vào giai đoạn kinh doanh ổn định, với mật độ hơn 2.000 cây/ha và được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, năng suất có thể đạt từ 7 – 8 tấn cà phê nhân/ha.
Điều ông kỳ vọng hơn cả là chất lượng hạt. Theo ông Quân, thị trường hiện nay ngày càng quan tâm đến chất lượng nguyên liệu. Chọn đúng giống ngay từ đầu cũng đồng nghĩa với việc tạo lợi thế cho cả chu kỳ sản xuất nhiều năm sau.
Không chỉ riêng ông Quân, mùa mưa năm nay cũng là thời điểm nhiều hộ trồng cà phê ở Nâm Nung bắt đầu tái canh hoặc mở rộng diện tích. Sau nhiều năm chứng kiến những vườn cây già cỗi giảm năng suất, người dân ngày càng thận trọng hơn trong việc lựa chọn giống, bởi họ hiểu đây là quyết định ảnh hưởng đến cả vòng đời của vườn cây.

Việc chọn giống cà phê phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng giúp đạt năng suất đạt cao, chất lượng hạt tốt. Ảnh: Phạm Hoài.
Ông Ngô Xuân Danh, Chủ tịch UBND xã Nâm Nung cho biết, địa phương không khuyến khích người dân mua cây giống trôi nổi trên thị trường mà luôn định hướng lựa chọn giống từ các cơ sở được cơ quan chuyên môn công nhận hoặc thông qua Trung tâm Dịch vụ tổng hợp của xã để được kết nối với các đơn vị cung ứng uy tín.
“Ở khu vực Tây Nguyên, bà con nên lấy giống ở Viện Eakmat để phục vụ sản xuất và hạn chế thấp nhất mua cây giống trôi nổi trên thị trường. Cây cà phê từ lúc trồng đến lúc thu hoạch mất ít nhất 3 năm. Do đó, nếu không bảo đảm kỹ thuật, chất lượng thì thiệt hại rất lớn”, ông Danh nói.
Khâu chọn giống phải đi trước một bước
Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng trở thành địa phương có vùng nguyên liệu cà phê lớn nhất nước. Đây không chỉ là lợi thế về quy mô sản xuất mà còn mở ra dư địa để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu chế biến sâu và xuất khẩu.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, toàn tỉnh hiện có 328.732ha cà phê, sản lượng hằng năm đạt trên 1 triệu tấn. Cùng với lợi thế hơn 1 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, phần lớn là đất đỏ bazan màu mỡ, khí hậu phân hóa theo độ cao và nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau, Lâm Đồng có điều kiện thuận lợi để phát triển cả cà phê Robusta chất lượng cao lẫn Arabica đặc sản. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng các vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh diện tích cà phê cơ bản đã ổn định, mục tiêu không còn là mở rộng diện tích mà chuyển mạnh sang nâng cao giá trị trên từng đơn vị canh tác. Trọng tâm là tái canh những diện tích già cỗi, sử dụng giống có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, mở rộng vùng sản xuất theo các tiêu chuẩn bền vững, tăng tỷ lệ chế biến sâu và xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ.
Muốn làm được điều đó, khâu chọn giống phải đi trước một bước, bởi đây là yếu tố quyết định chất lượng vùng nguyên liệu trong suốt chu kỳ sản xuất kéo dài hàng chục năm.

Mỗi vườn cà phê không nên trồng một giống duy nhất mà nên bố trí khoảng 80% giống chính và 20% giống phụ để tăng khả năng thụ phấn chéo, ổn định năng suất. Ảnh: Phạm Hoài.
TS Phan Việt Hà, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng, tư duy chọn giống cà phê hiện nay cần thay đổi theo yêu cầu của thị trường chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu năng suất.
“Đối với những cây công nghiệp dài ngày như cà phê hay hồ tiêu, việc lựa chọn giống ngay từ đầu có ý nghĩa quyết định. Trước đây chúng ta thường quan tâm nhiều đến năng suất, sức sinh trưởng hoặc khả năng chống chịu sâu bệnh. Nhưng hiện nay, người sản xuất cần xác định trước sẽ làm cà phê thương phẩm, cà phê chất lượng cao hay tham gia chế biến sâu. Mỗi mục tiêu sẽ phù hợp với những nhóm giống khác nhau”, ông Hà phân tích.
Theo ông Hà, đối với sản xuất đại trà theo hướng năng suất cao, người dân có thể chọn các giống TR4, TR9, TR11 hoặc giống thực sinh TRS1. Trong khi đó, ở những vùng có khí hậu mát như Lâm Đồng hoặc các mô hình canh tác đa thân, giống Xanh lùn và Thiện Trường lại thể hiện nhiều ưu thế về khả năng thích nghi, tán cây gọn, thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch. Nếu định hướng sản xuất cà phê chất lượng cao, TR11, TR9 và Xanh lùn là những giống đáng được ưu tiên vì vừa bảo đảm năng suất, vừa có chất lượng hạt tốt.
TS Phan Việt Hà khuyến cáo mỗi vườn không nên chỉ trồng một giống duy nhất mà nên bố trí khoảng 80% giống chính và 20% giống phụ để tăng khả năng thụ phấn chéo, ổn định năng suất và giảm rủi ro trong điều kiện thời tiết bất lợi. Quan trọng hơn, cây giống phải có nguồn gốc rõ ràng, được các cơ quan chuyên môn công nhận, bởi với cây cà phê, một quyết định sai ở khâu chọn giống có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của cả một chu kỳ kéo dài hàng chục năm.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
