Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu, giảm phát thải không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đang trở thành điều kiện quan trọng để ngành cà phê duy trì sức cạnh tranh. Từ thực tế đó, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã nghiên cứu và triển khai nhiều mô hình cà phê giảm phát thải tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và một số vùng sản xuất trọng điểm, gắn nghiên cứu với chuyển giao kỹ thuật, lấy vườn cà phê và người nông dân làm trung tâm.

Những năm qua Viện WASI triển khai rất nhiều mô hình cà phê giảm phát thải tại Tây Nguyên. Ảnh: P.C.
Từ kết quả nghiên cứu đến hơn 75 mô hình trên đồng ruộng
Theo ThS. Đỗ Văn Chung, Phó trưởng Bộ môn Hệ thống nông nghiệp thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, trong giai đoạn 2023-2026, đơn vị đã triển khai trên 75 mô hình cà phê giảm phát thải tại khu vực Tây Nguyên.
Nội dung tập trung vào ba nhóm nguồn phát thải và chi phí lớn trong sản xuất cà phê gồm: Quản lý dinh dưỡng, quản lý sâu bệnh hại và quản lý nước tưới. Tùy điều kiện từng vườn, mô hình được bón phân cân đối, tăng sử dụng phân hữu cơ, tưới đúng thời điểm, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp…
“Các giải pháp trên còn được kết hợp với trồng xen cây ăn quả hoặc cây che bóng, duy trì thảm phủ, phát cỏ và dùng sinh khối phủ gốc thay cho thuốc trừ cỏ. Cách tiếp cận này giúp hạn chế đất trống, giảm xói mòn, cải thiện khả năng thấm và giữ nước, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho người nông dân. Kết quả theo dõi bước đầu tại các mô hình cà phê của Viện WASI cho thấy, phát thải có thể giảm khoảng 18-44% so với tập quán thông thường, trong khi năng suất và hiệu quả kinh tế vẫn được duy trì hoặc cải thiện”, ThS. Đỗ Văn Chung chia sẻ.
Nghiên cứu của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng, sử dụng quá mức phân bón hóa học và nước tưới là thách thức lớn đối với tính bền vững của cà phê Robusta. Vì vậy, giá trị cốt lõi của mô hình giảm phát thải không chỉ nằm ở lượng khí nhà kính được cắt giảm, mà còn ở khả năng tiết kiệm đầu vào, phục hồi sức khỏe đất và nâng cao khả năng chống chịu của vườn cây.

Dùng phân hữu cơ bón cho cà phê giúp phát thải các-bon. Ảnh: P.C.
Theo ThS. Đỗ Văn Chung, Tây Nguyên đang đối mặt với thời tiết cực đoan, mùa khô kéo dài, mưa phân bố thất thường và áp lực khai thác nguồn nước. Trong sản xuất cà phê, phân đạm phát sinh khí nitơ oxit; điện hoặc nhiên liệu dùng để bơm tưới tạo ra CO₂; đốt phụ phẩm và để đất trống cũng làm thất thoát các-bon, chất hữu cơ và độ ẩm. Nếu không thay đổi phương thức canh tác, chi phí đầu vào sẽ tăng trong khi khả năng chống chịu của vườn cây lại suy giảm.
“Ngược lại, nếu chúng ta bón phân theo nhu cầu cây và độ phì đất, tưới vừa đủ, tái sử dụng phụ phẩm, bảo vệ thảm phủ và phát triển hệ thống nông lâm kết hợp vừa giảm phát thải, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất”, ThS. Chung nói và cho biết, nghiên cứu về tưới cà phê tại Việt Nam cho thấy sử dụng nước thiếu hiệu quả là nguy cơ đối với sản xuất bền vững. Còn các thảm phủ ghi nhận vai trò của lớp phủ thực vật trong giảm tác động của mưa, hạn chế đóng váng và tăng khả năng thấm nước của đất.
Hướng tới vùng cà phê xanh, cạnh tranh và trách nhiệm
Thời gian qua, Viện WASI đã phối hợp với nhiều tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp triển khai nhiều hành động cụ thể. Theo ThS. Đỗ Văn Chung, chỉ tính riêng địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, trong năm 2025 và 2026, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ Cà phê Eakmat, đơn vị thuộc Viện WASI đã trực tiếp cấp cây và phối hợp triển khai trồng cây rừng trong vườn cà phê cho người dân. Chương trình này do Nestlé đầu tư, PUR là đơn vị thực hiện cùng với WASI nhằm hướng tới tăng độ che phủ, đa dạng hóa hệ sinh thái và bổ sung khả năng hấp thụ các-bon cho vùng nguyên liệu.

Mô hình cà phê để thảm cỏ và trồng xen của Viện WASI được triển khai ngày càng nhiều. Ảnh: P.C.
Ngoài cấp cây rừng, người dân còn được hỗ trợ 3.000 đồng cho mỗi cây sống, đây là việc làm đặt trọng tâm vào kết quả sau trồng thay vì chỉ tính số cây được cấp. Qua hai năm, chương trình đã hỗ trợ cho 363 hộ dân với 209.615 cây rừng. Đây là minh chứng việc chuyển cam kết giảm phát thải thành hành động có thể đo đếm tại các hộ nông dân, đồng thời khuyến khích người dân chăm sóc cây lâu dài để hình thành tán che ổn định.
“Khi cây rừng được bố trí phù hợp, vườn cà phê có thể giảm tác động của nắng nóng, hạn chế bốc hơi nước và bổ sung sinh khối cho đất. Tuy nhiên, mật độ, loại cây và cách tỉa tán cần được hướng dẫn kỹ thuật để tránh cạnh tranh ánh sáng, nước và dinh dưỡng với cà phê”, ThS. Chung nói.
Theo TS. Phan Việt Hà, Phó Viên trưởng Phụ trách Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, để các tiến bộ kỹ thuật không dừng lại ở phạm vi nghiên cứu, những năm qua Viện WASI đã tăng cường hợp tác với nhiều tổ chức, tập đoàn và doanh nghiệp trong và ngoài nước như Bình Điền, Đạm Phú Mỹ, Bayer, Syngenta, Corteva, Nestlé, Olam/OFI, CABI, Simexco Đắk Lắk, Đắk Man và Louis Dreyfus Company (LDC)… Hoạt động hợp tác bao gồm tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn, chuyển giao quy trình kỹ thuật và đồng hành cùng vùng nguyên liệu.

Hiệu quả từ trồng hồ tiêu trên cây trụ sống xen trong vườn cà phê kết hợp tận dụng vỏ cà phê ủ làm phân hữu cơ. Ảnh: Phạm Hoài.
Chỉ tính năm 2025 và 2026, số nông hộ nông dân được Viện WASI đào tạo hằng năm cho Simexco Đắk Lắk đạt khoảng 2.000 – 4.000 hộ; với Olam tại Lâm Đồng đạt khoảng 1.800 – 2.200 hộ. Thực tế này cho thấy chuyển đổi sang sản xuất giảm phát thải đang từng bước vượt ra ngoài các điểm trình diễn hướng đến diện rộng. Thông qua lớp học, hội thảo đầu bờ và mô hình thực tế, nông dân được hướng dẫn lựa chọn đầu vào hợp lý, giảm thất thoát phân bón, sử dụng nước tiết kiệm, quản lý sâu bệnh theo IPM và quản lý cỏ không dùng thuốc trừ cỏ.
“Sự tham gia của doanh nghiệp giúp liên kết yêu cầu của thị trường với quy trình canh tác. Các tổ chức hỗ trợ phương pháp và nguồn lực, còn Viện WASI đảm nhiệm vai trò khoa học, kiểm chứng giải pháp và chuyển giao phù hợp với điều kiện Tây Nguyên. Mối liên kết giữa viện nghiên cứu – doanh nghiệp – địa phương – nông dân vì vậy là nền tảng để xây dựng dữ liệu phát thải, truy xuất nguồn gốc và nhân rộng vùng cà phê bền vững”, TS Phan Việt Hà chia sẻ.
TS. Phan Việt Hà: Thời gian tới Viện WASI tiếp tục chuẩn hóa phương pháp đo lường, xây dựng đường cơ sở phát thải, theo dõi tỷ lệ cây rừng sống, lượng nước và phân bón tiết kiệm, năng suất, thu nhập cũng như khả năng tích lũy các-bon của từng loại mô hình để có cơ sở khoa học triển khai trên diện rộng.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
