Áp lực dịch bệnh, thức ăn và nguy cơ đồng huyết
Tại hội nghị giải pháp nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê, cừu do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa tổ chức vào ngày 30/9, ThS Nguyễn Đức Điện (Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên) đã trình bày tham luận phân tích các vấn đề nổi bật và đề xuất giải pháp nâng hiệu quả trong chăn nuôi dê, cừu phù hợp với điều kiện địa phương.

ThS Nguyễn Đức Điện chia sẻ giải pháp chăn nuôi dê, cừu phù hợp với điều kiện tại tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: KS.
Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Khánh Hòa, đến tháng 9/2026, tổng đàn dê, cừu toàn tỉnh duy trì ổn định khoảng 210.000 con. Trong đó, đàn dê đạt khoảng 116.000 con (chiếm 6,5% tổng đàn dê cả nước); đàn cừu đạt khoảng 94.000 con (chiếm khoảng 86% tổng đàn cừu cả nước).
Quy mô đàn cho thấy vai trò của dê, cừu trong sản xuất chăn nuôi địa phương, tuy nhiên hiệu quả phụ thuộc vào chất lượng giống, khả năng bảo đảm thức ăn trong mùa khô, kiểm soát dịch bệnh và sự ổn định của đầu ra. Tại các đàn quy mô hộ, nguồn gốc cá thể và quá trình sử dụng đực giống khó theo dõi do thiếu ghi chép, làm tăng nguy giao phối cận huyết. Khi bãi chăn thu hẹp hoặc chất lượng thảm cỏ giảm trong mùa khô, nếu không dự trữ thức ăn và cân đối quy mô đàn, vật nuôi có thể giảm thể trạng, ảnh hưởng đến sinh sản, nuôi con và tăng trưởng.
Cùng với áp lực thức ăn, công tác phòng bệnh cần thực hiện thường xuyên tại cơ sở nuôi và kiểm soát chặt chẽ việc nhập đàn, vận chuyển. Dịch tả dê, cừu (PPR) là nguy cơ mới cần đặc biệt lưu ý sau khi được ghi nhận tại Việt Nam. Đối với dê, cừu làm giống, các bệnh lở mồm long móng, bệnh đậu, xoắn khuẩn và sảy thai truyền nhiễm cần được quan tâm trong quản lý sức khỏe và kiểm dịch. Đàn vật nuôi còn chịu ảnh hưởng của các bệnh đường tiêu hóa như viêm ruột hoại tử liên quan đến độc tố vi khuẩn và biến động khẩu phần, chướng hơi dạ cỏ do ăn thức ăn dễ sinh hơi hoặc thay đổi thức ăn quá nhanh, cùng bệnh sán lá gan.

Khánh Hòa là tỉnh có đàn cừu lớn nhất cả nước. Ảnh: P.Chi.
Về năng suất, chênh lệch giữa các cơ sở rất rõ ràng. Minh chứng từ một mô hình khuyến nông cừu sinh sản tại Ninh Thuận cho thấy cừu đạt 24 kg lúc 6 tháng tuổi, so với 20 kg ở các hộ ngoài mô hình khi việc lựa chọn con giống được kết hợp với cải thiện nuôi dưỡng. Về tiêu thụ, chăn nuôi hộ phân tán chủ yếu qua thương lái và cơ sở thu mua nên giá bán biến động. Khánh Hòa đã phê duyệt Đề án phát triển sản phẩm dê, cừu Halal đến năm 2030, tạo thêm cơ hội thị trường nhưng đòi hỏi người nuôi và các cơ sở liên kết phải nâng chất lượng đàn, quản lý sức khỏe, thống nhất quy trình và bảo đảm thông tin nguồn gốc sản phẩm.
Đồng bộ kỹ thuật giống, dinh dưỡng và liên kết tiêu thụ
Để cải thiện chất lượng đàn giống, ThS Nguyễn Đức Điện đề xuất việc chọn giống phải bắt đầu từ mục tiêu sản xuất. Đàn sinh sản hướng đến tạo nhiều con cai sữa khỏe mạnh từ mỗi con mẹ; đàn nuôi thịt hướng đến khả năng tăng trưởng, khối lượng xuất bán và thời gian nuôi hợp lý. Việc chọn lọc và loại thải phải dựa trên ghi chép kết quả từng cá thể, gắn thẻ tai nhận diện và có sổ ghi chép.
Đối với đực giống, tổ hợp tác hoặc hợp tác xã có thể tổ chức luân chuyển giữa các đàn có nguồn gốc khác nhau kết hợp kiểm tra sức khỏe và hồ sơ tiêm phòng để tránh cận huyết và hạn chế lây mầm bệnh. Việc sử dụng giống ngoại và lai giống phải đánh giá trong điều kiện địa phương về tỷ lệ sống, kết quả sinh sản, tăng trọng và chi phí trước khi nhân rộng; đồng thời tỉnh cần lựa chọn các cơ sở đủ điều kiện để xây dựng đàn giống nòng cốt có mã số nhận diện và hồ sơ theo dõi.
Trong quy trình nuôi dưỡng, cơ sở chăn nuôi cần xác định khả năng cung cấp thức ăn trước khi quyết định quy mô đàn, tận dụng nguồn thức ăn vào mùa mưa để phơi khô hoặc ủ chua, dự trữ cho mùa khô, bố trí diện tích trồng cỏ và sử dụng nước tưới tiết kiệm. Khẩu phần cần điều chỉnh theo từng nhóm vật nuôi như con mẹ mang thai, nuôi con, con non sau cai sữa và đàn nuôi thịt. Đối với đàn sinh sản, việc chăm sóc con mẹ cuối thai kỳ, chuẩn bị nơi đẻ sạch sẽ, khô ráo và bảo đảm con non được bú sữa đầu sớm, giữ ấm sẽ giúp giảm hao hụt. Chuồng nuôi phải thông thoáng, bố trí khu vực riêng cho con mẹ sắp đẻ, con non, con bệnh và đàn mới nhập, kết hợp quản lý thời gian và khu vực chăn thả hợp lý để bảo vệ bãi chăn và giảm tiếp xúc với mầm bệnh.

Chăn nuôi dê kiểu bán công nghiệp, áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Ảnh: P.Chi.
Về phòng bệnh và tiêu thụ, hộ nuôi cần phối hợp với cán bộ thú y lập lịch tiêm phòng lở mồm long móng, bệnh đậu, tẩy sán lá gan định kỳ, quản lý chất lượng thức ăn và báo ngay cho cơ quan thú y khi phát hiện ca nghi mắc PPR hoặc bệnh nguy hiểm. Đàn nuôi thịt nên phân nhóm theo độ tuổi, khối lượng, cân định kỳ để xuất bán đúng thời điểm và ghi chép chi phí và doanh thu để xác định lợi nhuận thực tế để tính lãi thực tế. Các hộ nuôi nên phối hợp qua tổ hợp tác, hợp tác xã để thống nhất thời điểm xuất bán, phân loại khối lượng, kết nối với đơn vị thu mua và đáp ứng định hướng sản phẩm Halal.
Về tổ chức thực hiện, ông Điện kiến nghị Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với cơ quan thú y và chính quyền cấp xã rà soát vùng nuôi tập trung, lựa chọn mô hình điểm cho cả dê và cừu. Triển khai cần phân công rõ trách nhiệm giữa các bên, tiến hành theo dõi ít nhất một chu kỳ sinh sản và một đợt xuất bán để đánh giá các chỉ tiêu số con cai sữa/con mẹ, tỷ lệ nuôi sống, tăng trưởng và lợi nhuận thực tế trước khi tổ chức tham quan, tập huấn và nhân rộng gắn với liên kết tiêu thụ.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
