Nông dân thay đổi cách nghĩ
Với gần 5ha chanh dây, anh Nguyễn Thiện Khánh (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) xác định ngay từ đầu hướng sản xuất để phục vụ thị trường xuất khẩu, nhất là thị trường Châu Âu. Theo đó, anh lựa chọn sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học cho toàn bộ diện tích chanh dây của gia đình.

Vườn chanh dây của gia đình anh Khánh sử dụng thuốc sinh học và phân bón hữu cơ để hướng đến thị trường xuất khẩu. Ảnh: Tuấn Anh.
Anh Khánh cho biết, những năm gần đây, bệnh đốm nâu xuất hiện, gây thiệt hại trên nhiều vườn chanh dây trong khu vực. Khi bệnh lây lan nhanh, không ít hộ dân lựa chọn thuốc hóa học với mong muốn xử lý nhanh, hạn chế thiệt hại. Bản thân anh cũng từng đứng trước áp lực ấy, nhưng gia đình vẫn kiên trì với phương pháp canh tác đã lựa chọn.
“Dùng thuốc sinh học sẽ mất thời gian dài hơn, nhưng bù lại quả chanh cho chất lượng đảm bảo, an toàn nên mình yên tâm hơn”, anh Khánh chia sẻ.
Theo anh Khánh, hiện các nước nhập khẩu chanh dây đang ngày càng quan tâm đến dư lượng thuốc hóa học. Muốn xuất khẩu chanh dây, người dân phải hướng đến sản xuất sạch, trong đó sử dụng thuốc sinh học là giải pháp cần thiết.
“Sản xuất chanh dây, người trồng không chỉ quan tâm đến năng suất mà còn phải chú trọng tới chất lượng, quy trình canh tác và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Có như vậy chanh dây mới có cơ hội xuất khẩu sang Châu Âu, nâng cao thu nhập”, anh Khánh nói.
Tại làng Blang 3 (xã Ia Hrung), anh Puih Bút đang chăm sóc 3ha cà phê. Thời tiết thất thường, những đợt mưa nắng xen kẽ khiến vườn cây thường xuyên chịu áp lực sâu bệnh, nhất là rệp sáp và thán thư.

Vườn cà phê của anh Puih Bút dần chuyển sang sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc sinh học. Ảnh: Tuấn Anh.
Trước đây, khi phát hiện sâu bệnh, anh Bút thường ưu tiên thuốc hóa học bởi tâm lý muốn xử lý càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên khoảng 2 năm trở lại đây, anh bắt đầu thay đổi, từng bước đưa thuốc sinh học vào chăm sóc vườn cây.
“Thuốc sinh học cho hiệu quả chậm hơn, không tạo ra hiệu quả tức thời như thuốc hóa học. Nhưng bù lại thuốc sinh học an toàn hơn cho gia đình và bảo vệ môi trường. Điều khiến gia đình băn khoăn là giá của thuốc sinh học còn khá cao nên việc sử dụng còn hạn chế”, anh Bút chia sẻ.
Xu hướng dùng thuốc sinh học ngày càng rộng
Từ thực tế sản xuất, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Nghĩa Hòa (xã Chư Păh) nhận thấy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đang trở thành xu hướng rõ nét trong những năm gần đây.
Theo ông Minh, tại vùng sản xuất của HTX, tỷ lệ người dân sử dụng thuốc sinh học đã tăng lên đáng kể, thậm chí chiếm trên 50%. Sự thay đổi này cho thấy người sản xuất ngày càng quan tâm đến sức khỏe đất, chất lượng nông sản và yêu cầu của thị trường.
“Thuốc sinh học sẽ cải tạo đất tốt hơn, trong khi thuốc hóa học không cải tạo đất mà còn tác động xấu tới môi trường. Khi sử dụng quá nhiều thuốc hóa học, hệ vi sinh vật trong đất bị ảnh hưởng. Thuốc sinh học giúp môi trường đất cân bằng hơn, tạo điều kiện để một số loại nấm, vi sinh vật có lợi phát triển”, ông Minh chia sẻ.

Nông dân ngày càng lựa chọn hướng sản xuất nông nghiệp sạch, “nói không” với hóa chất. Ảnh: Tuấn Anh.
Cũng theo ông Minh, rào cản sử dụng thuốc sinh học hiện nay không chỉ nằm ở giá cả mà còn ở niềm tin của người sản xuất. Với những nông dân chưa am hiểu về thuốc sinh học, việc lựa chọn thuốc hóa học vẫn khá phổ biến bởi hiệu quả nhanh.
“Thuốc sinh học ngày càng được sử dụng nhiều, nhưng muốn người dân tin tưởng thì doanh nghiệp phải sản xuất thuốc đúng tiêu chuẩn, chất lượng đảm bảo và mang lại hiệu quả như mong muốn. Còn sử dụng không hiệu quả, người dân vừa tốn tiền, vừa dễ mất niềm tin”, ông Minh nói.
Theo bà Nguyễn Thị Huyền, Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp sinh học Gia Lai, việc sử dụng thuốc sinh học trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trên cây chanh dây phục vụ xuất khẩu sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới.
Bà Huyền cho rằng đây là xu hướng gắn chặt với yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu. Những thị trường lớn như EU, Mỹ, Trung Quốc ngày càng quan tâm đến việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, buộc vùng nguyên liệu phải chú trọng hơn đến quy trình sản xuất ngay từ đồng ruộng.
Cùng với đó, các chính sách thúc đẩy sản xuất theo những tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP và hướng hữu cơ đang tạo thêm động lực để doanh nghiệp, HTX và nông dân thay đổi phương thức canh tác.
Cũng theo bà Huyền, hiện các doanh nghiệp trong nước cũng đang quan tâm đầu tư sản xuất nhiều dòng sản phẩm BVTV sinh học, từ chế phẩm nano, thảo mộc đến các sản phẩm có nguồn gốc vi sinh vật và tuyến trùng. Điều này giúp người sản xuất có thêm lựa chọn trong phòng trừ sâu bệnh thay vì phụ thuộc vào thuốc hóa học.
“Không chỉ đáp ứng yêu cầu thị trường, việc sử dụng thuốc sinh học còn mang lại những lợi ích lâu dài đối với sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường, góp phần giảm nguy cơ tồn dư hóa chất, duy trì đa dạng sinh học và hạn chế tình trạng kháng thuốc trong nông nghiệp”, bà Huyền chia sẻ.
Bà Huyền cho biết, thuốc bảo vệ thực vật sinh học vẫn có những hạn chế như hiệu lực thường chậm hơn thuốc hóa học, trong khi hiệu quả của một số chế phẩm chịu tác động khá lớn bởi nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng. Vì vậy, người sử dụng cần nắm rõ đặc tính từng sản phẩm, lựa chọn đúng thời điểm và tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
