Trong bối cảnh chăn nuôi ngày càng đối mặt nhiều rủi ro về dịch bệnh, giá cả và thị trường, việc làm chủ kỹ thuật, chủ động quy trình sản xuất đang trở thành yếu tố quyết định hiệu quả kinh tế. Tại thôn Lương Thiện, xã Lương Sơn, tỉnh Thanh Hóa, mô hình chăn nuôi gà của anh Bàn Văn Lâm (dân tộc Dao Tiền) là điển hình cho hướng đi này.
Cũng như nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số khác, anh Lâm từng quen với phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phụ thuộc vào kinh nghiệm là chính. Tuy nhiên, với mong muốn thoát nghèo, anh đã chủ động tìm tòi, học hỏi kỹ thuật, từng bước chuyển đổi sang chăn nuôi theo hướng bài bản, kiểm soát chặt chẽ quy trình.
Phải nắm vững quy trình phòng bệnh
Trong chăn nuôi gia cầm, dịch bệnh luôn là mối đe dọa thường trực, có thể gây thiệt hại lớn nếu không kiểm soát tốt. Theo anh Lâm, yếu tố quan trọng nhất là phải nắm vững quy trình phòng bệnh, đặc biệt là sử dụng vaccine và thuốc thú y đúng cách.

Anh Lâm tận dụng lợi thế tự nhiên của địa phương, kết hợp chăn thả bán tự nhiên để cho chất lượng gà tốt hơn. Ảnh: Thanh Tâm.
Thực tế cho thấy nhiều loại thuốc thú y trong nước có ưu điểm cho hiệu quả nhanh nhưng lại khó kiểm chứng thời gian hết dư lượng, đồng thời khả năng phòng bệnh không bền vững. Trong khi đó, các loại vaccine, kháng sinh nhập khẩu dù giá cao hơn song có hiệu lực kéo dài, giúp kiểm soát dịch bệnh triệt để hơn trong suốt chu kỳ nuôi.
“Chăn nuôi mà không sử dụng vaccine thì gần như không thể thành công. Nhưng sử dụng vaccine phải đúng kỹ thuật, từ khâu bảo quản đến thời gian sử dụng. Ví dụ vaccine sau khi pha phải dùng trong vòng 2 giờ, nếu quá thời gian sẽ không còn hiệu lực”, anh Lâm chia sẻ.
Đối với đàn gà, các bệnh thường gặp gồm cầu trùng ghép viêm ruột, bệnh sưng phù đầu (APV) và bệnh hô hấp cấp (IRT). Đáng chú ý, những năm gần đây, thời điểm phát sinh dịch bệnh có xu hướng sớm hơn. Nếu trước đây cầu trùng thường xuất hiện sau 2 tuần tuổi thì nay gà chỉ từ 7 ngày tuổi đã có dấu hiệu bị bệnh, buộc người chăn nuôi phải chủ động phòng bệnh từ rất sớm.
Ngoài ra, việc kiểm soát nấm và độc tố nấm (mycotoxin) trong thức ăn cũng là yếu tố quan trọng. Nếu không xử lý tốt, gà có thể ăn nhiều nhưng không tăng trọng, cơ thể gầy yếu, dễ mắc bệnh và chết. Do đó, trong quy trình nuôi, anh Lâm luôn duy trì việc xử lý nấm định kỳ, kết hợp sử dụng thuốc phù hợp với từng loại nấm.
Nuôi thả tự nhiên kết hợp làm chủ kỹ thuật
Khác với nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp khép kín, anh Lâm chọn hướng chăn nuôi bán tự nhiên. Sau khoảng 30 ngày úm trong chuồng, gà được thả ra môi trường bên ngoài, tự do vận động, kiếm ăn bổ sung trong tự nhiên.

Gà sau khi úm đủ 30 ngày, tiêm vaccine đầy đủ sẽ được anh Lâm thả ra môi trường tự nhiên. Ảnh: Thanh Tâm.
Theo anh Lâm, việc thả gà giúp tăng sức đề kháng, chất lượng thịt săn chắc, phù hợp với nhu cầu thị trường. Tuy nhiên để đạt hiệu quả, người nuôi phải kiểm soát tốt các yếu tố môi trường.
“Gà thả ra ngoài dễ tiếp xúc với đất, giun, côn trùng nên nguy cơ nhiễm ký sinh trùng rất cao. Vì vậy bắt buộc phải tẩy giun ít nhất 2 – 3 lần trong quá trình nuôi”, anh cho biết.
Quy trình cụ thể được áp dụng như sau: 30 – 35 ngày tuổi tẩy giun và xử lý nấm lần đầu, sau đó thả vườn; tới 60 ngày tuổi tẩy giun lần 2; trước khi xuất bán 30 ngày kiểm tra, nếu cần sẽ tẩy giun lần 3.
Nếu không kiểm soát tốt, giun ký sinh có thể khiến gà chậm lớn, khó thở, giảm giá trị thương phẩm, thậm chí bị thương lái từ chối thu mua.
Bên cạnh đó, anh Lâm cũng sử dụng đệm lót sinh học trong chuồng nuôi. Đệm lót được duy trì độ dày từ 5 – 10cm tùy mùa, định kỳ bổ sung men vi sinh để phân hủy chất thải, giảm mùi hôi và hạn chế mầm bệnh. Sau mỗi lứa nuôi, đệm lót được tận dụng bán cho các hộ trồng mía, vừa tăng thu nhập, vừa giảm chi phí xử lý môi trường.

Định ký 15 ngày anh Lâm rải men vi sinh trên đệm lót sinh học. Ảnh: Thanh Tâm.
Điểm đáng chú ý là đàn gà được tách riêng trống – mái để hạn chế tình trạng đánh nhau khi gà phát mã. Thức ăn không tập trung tại một điểm mà được phân bổ theo từng nhóm nhỏ, giúp giảm cạnh tranh, đảm bảo đàn gà phát triển đồng đều.
Tập trung vào chất lượng sản phẩm
Bắt đầu từ quy mô nhỏ với vài chục con gà, với quyết tâm và ý chí vươn lên của một người con dân tộc Dao Tiền, anh Lâm đã từng bước mở rộng sản xuất. Đến nay mô hình của anh đã phát triển lên khoảng 12 chuồng nuôi với tổng đàn hơn 14.000 con/lứa, hướng tới mục tiêu 20.000 con trong thời gian tới.
Mỗi năm gia đình xuất bán khoảng 96 tấn gà thương phẩm. Với giá bán trung bình khoảng 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt khoảng 600 triệu đồng. Thị trường tiêu thụ chủ yếu tại Hà Nội và một số tỉnh lân cận, đầu ra tương đối ổn định.

Mỗi trại gà đều được lắp đặt nhiệt kế để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp. Ảnh: Thanh Tâm.
Theo anh Lâm, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, người chăn nuôi nhỏ lẻ không thể chạy đua về giá mà cần tập trung vào chất lượng sản phẩm.
“Các trang trại lớn họ chủ động được con giống, thức ăn nên giá thành rất thấp. Mình không thể cạnh tranh bằng giá mà phải chọn hướng nuôi gà thả, chất lượng thịt ngon hơn thì mới có thị trường”, anh nói.
Đánh giá về mô hình, ông Lò Văn Khăm, Chủ tịch Hội Nông dân xã Lương Sơn cho biết: “Mô hình chăn nuôi gà thả vườn của anh Bàn Văn Lâm là một trong những mô hình tiêu biểu của địa phương. Anh đã mạnh dạn thay đổi tư duy, làm chủ kỹ thuật, áp dụng quy trình chăn nuôi bài bản nên hạn chế được rủi ro dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế”.
Theo ông Khăm, không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho gia đình, mô hình còn có ý nghĩa lan tỏa trong cộng đồng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. “Anh Lâm là người Dao Tiền nhưng rất chủ động học hỏi, dám nghĩ, dám làm. Đây là tấm gương để nhiều hội viên nông dân khác học tập, từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất, phát triển kinh tế bền vững”, ông nhấn mạnh.

Lứa gà chuẩn bị xuất bán của anh Lâm khi đã nuôi đủ 5 tháng. Ảnh: Thanh Tâm.
Trong thời gian tới, ngoài việc mở rộng quy mô chăn nuôi gà, anh Lâm còn đầu tư thêm hệ thống chăn nuôi lợn với quy mô hàng trăm con, từng bước đa dạng hóa sản xuất. Tuy nhiên, anh cho biết sẽ không phát triển quá nhanh mà tập trung hoàn thiện quy trình, đảm bảo hiệu quả bền vững.
“Làm nông nghiệp không thể nóng vội. Quan trọng nhất là kiểm soát được kỹ thuật, làm chủ được quy trình. Khi đã chắc rồi thì mới mở rộng, nếu không rất dễ rủi ro”, anh Lâm chia sẻ.
Từ thực tế mô hình cho thấy trong bối cảnh ngành chăn nuôi còn nhiều biến động, việc chủ động kỹ thuật, kết hợp kinh nghiệm thực tiễn với khoa học là hướng đi tất yếu. Đây không chỉ là cách giúp người chăn nuôi nâng cao thu nhập mà còn góp phần tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
