LTS: Canh tác cà phê giảm phát thải không chỉ là câu chuyện môi trường mà còn là giải pháp giảm chi phí, bảo vệ tài nguyên, thích ứng biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Khi khoa học được kiểm chứng trên đồng ruộng, được doanh nghiệp cùng nông dân tiếp nhận, cà phê Tây Nguyên có thêm nền tảng để nâng cao giá trị và phát triển bền vững.
Canh tác theo hướng hữu cơ, giảm hơn 70% lượng phân hóa học
Hơn 20 năm gắn bó, ông Phan Hữu Dương (thôn Ia Ping, xã Ia Ly, tỉnh Gia Lai) có thừa kinh nghiệm trong canh tác cà phê để làm sao hiệu quả nhất trên diện tích 5 ha của gia đình. Những năm đầu sản xuất, với suy nghĩ phải cho vườn cà phê đạt năng suất cao nhất có thể, do vậy ông Dương đã không tiếc tiền đầu tư mua phân hóa học về bón cho loại cây trồng này.

Cà phê hướng hữu cơ giảm 70% phân bón hóa học, tác nhân gây phát thải chính trong canh tác cà phê. Ảnh: Tuấn Anh.
Ông Dương không biết rằng, chính kiểu canh tác ấy vừa làm tăng chi phí, vừa làm đất nhanh chai cứng, vừa làm cây nhanh suy kiệt, đặc biệt đã phát thải ra môi trường lượng lớn các-bon.
Tuy nhiên, câu chuyện sản xuất cà phê của ông Dương bắt đầu thay đổi sau khi ông được tập huấn chương trình canh tác cà phê bền vững 4C từ năm 2008. Theo đó, ông Dương từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng hữu cơ, lấy việc cải tạo đất và xây dựng hệ sinh thái trong vườn cây làm nền tảng, trồng cây che bóng và để thảm cỏ nhằm giữ ẩm, chống xói mòn cũng như tự làm phân hữu cơ bón ngược lại cho vườn cà phê.
“Tôi đã tận dụng vỏ cà phê, lá cây, cỏ và các phụ phẩm nông nghiệp để ủ thành phân hữu cơ, bổ sung dinh dưỡng và cải tạo đất. Cỏ trong vườn được duy trì có kiểm soát nhằm hạn chế xói mòn vào mùa mưa, giữ ẩm trong mùa khô, đồng thời tạo thêm nguồn mùn và môi trường thuận lợi cho vi sinh vật có lợi phát triển”, ông Dương nói và cho biết, hiện nay lượng phân hóa học bón cho cà phê của gia đình sử dụng chưa bằng 30% so với trước đây, chủ yếu bổ sung vào những thời điểm cây cà phê cần thêm dinh dưỡng để sinh trưởng, nuôi quả và duy trì sản lượng.
Cà phê hữu cơ giảm 60-70% lượng phát thải tại vườn
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, hiện nay lượng phát thải của cà phê chủ yếu do bón phân hóa học, chiếm tới 70-75%. ThS. Đỗ Văn Chung, Phó trưởng Bộ môn Hệ thống nông nghiệp thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho biết, canh tác cà phê thông thường, nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất thường liên quan đến phân bón chứa đạm; phát thải còn phát sinh trong quá trình sản xuất, vận chuyển phân bón, đồng thời nitơ (thành phần chính của phân đạm) sau khi bón vào đất có thể chuyển hóa và phát sinh khí N₂O, loại khí nhà kính có khả năng gây nóng lên toàn cầu rất cao.

Tận dụng vỏ cà phê ủ làm phân hữu cơ để bón cho cà phê vừa giảm phát thải, vừa cải tạo đất và giảm chi phí đầu vào. Ảnh: M.P.
Ngoài ra, canh tác cà phê còn có các nguồn phát thải khác từ điện hoặc xăng dầu dùng để bơm tưới; nhiên liệu vận hành máy móc; thuốc bảo vệ thực vật; đốt cành, lá và phụ phẩm; nước thải từ quá trình chế biến ướt hay vận chuyển vật tư, sản phẩm. “Qua nghiên cứu trên các vườn cà phê của chúng tôi cho thấy, nguồn nitơ hữu cơ và vô cơ là nhóm đóng góp chính vào dấu chân các-bon, vì vậy quản lý và giảm lượng bón phân hóa học là biện pháp quan trọng nhất để giảm phát thải tại vườn cà phê”, ThS. Đỗ Văn Chung chia sẻ.
Để sản xuất cà phê hữu cơ thì bắt buộc phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt. Đầu tiên phải khảo sát vườn cây, phân tích đất, nguồn nước và lập bản đồ khu sản xuất. Vườn phải có vùng đệm để hạn chế nguy cơ nhiễm chéo hóa chất từ bên ngoài, có hệ thống trồng cây che bóng với mật độ phù hợp, duy trì thảm phủ để chống xói mòn. Cỏ được quản lý bằng phát cỏ, làm cỏ cơ giới không sử dụng thuốc trừ cỏ, không được sử dụng thuốc BVTV.
“Ngoài ra, sâu bệnh được quản lý tổng hợp thông qua vệ sinh đồng ruộng, tỉa cành tạo độ thông thoáng, bảo tồn thiên địch và sử dụng chế phẩm sinh học được phép. Quả được thu hái khi chín, không để lẫn với cà phê thông thường. Quá trình sơ chế phải tiết kiệm nước, xử lý nước thải và tận dụng vỏ quả để sản xuất phân ủ. Toàn bộ vật tư, bón phân, hoạt động chăm sóc, thu hoạch và sản lượng phải được ghi chép để truy xuất nguồn gốc”, ThS. Chung nói.
Đối với dinh dưỡng cho cà phê hữu cơ, cần sử dụng phân chuồng hoai, phân hữu cơ vi sinh, phân ủ từ vỏ cà phê và phụ phẩm thực vật. Phân hữu cơ phải được ủ hoai đúng kỹ thuật, kiểm soát mầm bệnh, hạt cỏ và nguy cơ ô nhiễm, đặc biệt đối với các nhà vườn muốn suất khẩu đi Nhật, Mỹ và EU cần sử dụng các sản phẩm phân bón có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn châu Âu và Mỹ (USDA-NOP). Đối với vườn đang chuyển đổi theo hướng hữu cơ và giảm phát thải, việc tái sử dụng vỏ cà phê, phân chuồng và phụ phẩm có thể giúp thay thế khoảng 30 – 50% lượng đạm khoáng trong giai đoạn đầu. Đến năm thứ 3 thì sử dụng 100% phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh có nguồn gốc.

Canh tác cà phê hữu cơ không chỉ giúp giảm phát thải mà còn giúp tăng tuổi thọ vườn cây và bảo vệ môi trường. Ảnh: M.P.
ThS. Đỗ Văn Chung cho biết, so với canh tác cà phê thâm canh sử dụng nhiều phân hóa học thì canh tác hữu cơ giảm khoảng 60 – 70% phát thải tại vườn. Mức giảm thực tế do lượng đạm được thay thế, năng suất, phương pháp ủ phân, tưới nước và khả năng tích lũy các-bon trong đất. Các nghiên cứu đã ghi nhận dấu chân các-bon của cà phê hữu cơ khoảng 0,12 – 0,52 kg CO₂e/kg quả tươi, trong khi cà phê thông thường khoảng 0,26 – 0,67 kg CO₂e/kg quả tươi.
Về kinh tế, chi phí mua phân hóa học, thuốc trừ cỏ và thuốc bảo vệ thực vật có thể giảm, nhưng chi phí lao động, sản xuất phân ủ, ghi chép, kiểm tra và chứng nhận thường tăng. Trong thời kỳ chuyển đổi, năng suất có thể giảm nếu nguồn dinh dưỡng hữu cơ chưa đáp ứng kịp nhu cầu của cây. Tuy nhiên, khi đất được cải thiện và thị trường đầu ra ổn định, người sản xuất có thể hưởng lợi từ giá bán cao hơn, giảm phụ thuộc vào vật tư đầu vào và hạn chế rủi ro biến động giá phân bón.
“Canh tác cà phê hữu cơ góp phần tăng chất hữu cơ, tăng khả năng giữ nước của đất, giảm xói mòn, hạn chế tồn dư hóa chất, bảo vệ sinh vật đất và đa dạng sinh học. Nếu kết hợp cây che bóng, tưới tiết kiệm, không đốt phụ phẩm và quản lý phân hữu cơ tốt, mô hình giúp giảm dấu chân các-bon của sản phẩm. Đây là cơ sở quan trọng để cà phê Việt Nam đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường”, ThS. Đỗ Văn Chung nói.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
