Nuôi cá làm thức ăn cho tôm
Hết xem ở hồ anh Lê Như Quỳnh lại chở tôi về ngôi nhà mới xây gần đó trị giá 2,1 tỷ đồng, phần lớn tiền có được là nhờ nuôi tôm càng xanh. Vị Trưởng thôn Đá Thượng, xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình này thủng thẳng kể, trước đây mình làm tự do, đến năm 2017 mới trở về quê để theo nghề thú y đã học thuở nào.
Năm 2020, anh thầu khu hồ rộng 1,6ha ở đầu làng vốn nuôi cá kém hiệu quả nên bị chủ cũ thờ ơ. Nhận thấy vấn đề ở chỗ nguồn nước thải từ đồng lúa chảy vào có lẫn thuốc sâu, phân hóa học thường làm cho thủy sản trong hồ bị chết, anh đắp bờ ngăn rồi bơm nước từ sông Hoàng Long ngược vào. Cả xã Lạng Phong (cũ) khi ấy chưa ai nuôi tôm càng xanh nhưng nghe phong thanh ở xã Văn Phú có ông Bùi Văn Sáu đã nuôi thành công anh liền đến tìm hiểu.
Hỏi tại sao không nuôi tôm thẻ chân trắng hay tôm sú, ông Sáu trả lời đã từng thử tất các loại ấy, thấy đều không hợp bằng tôm càng xanh bởi nước ở Nho Quan ngọt chứ không lợ hay mặn. Vậy là anh Quỳnh quyết định mua giống tôm càng xanh về nuôi. Trước khi thả anh cẩn thận kiểm tra xem nước trong ao có đảm bảo độ pH 7 – 8, độ kiềm dưới 200 hay không. Sau mỗi cơn mưa rào, độ pH thường lên cao thì phải dùng vôi bột hòa ra té xuống ao nhằm trung hòa pH cũng như khử các vi khuẩn, virus gây bệnh. Khi thấy độ kiềm cao thì phải thay ngay nước.

Anh Lê Như Quỳnh kiểm tra tôm nuôi qua đông. Ảnh: Dương Đình Tường.
Tôm giống được các trại ương trong bể, lúc mới thả xuống ao trong 10 ngày đầu anh phải sục oxy liên tục, đồng thời dùng vitamin C và khoáng để chống sốc nhiệt. Anh lại ủ men vi sinh với mật mía, cám gạo định kỳ 2 – 3 ngày tạt xuống ao một lần để tạo màu nước. Nếu màu nước trong quá thì tôm khó phát triển, phù hợp nhất vẫn là màu nước chè.
Giai đoạn đầu anh cho tôm ăn cám công nghiệp 100%. Khi chúng đạt kích cỡ 60 con/kg và hệ tiêu hóa ổn định mới chuyển sang cho ăn cá tạp xay theo tỷ lệ 60% cá, 25% cám ngô, cám gạo, 15% cám công nghiệp để tiết kiệm chi phí cũng như tăng chất lượng tôm thương phẩm. Bên cạnh hai ao lớn thả tôm, có một ao nhỏ thả cá mè để xay ra làm thức ăn cho tôm, khi cá trong ao khan hiếm anh tìm mua các loại cá tạp như rô phi nhỏ với giá chỉ 4.000 – 5000đ/kg.
Thức ăn được thả vào những cái vó đặt dưới ao để tiện cho việc theo dõi xem tôm ăn có hết hay không, nếu dư thừa dễ bị thối. Tôm là loài sống đáy nên nước tốt thôi chưa đủ mà đáy cũng phải tốt. Vốc bùn lên thấy màu vàng nâu, không hôi tanh là đạt, còn thấy màu đen, tanh, hôi thối thì phải xử lý ngay bằng men khử đáy.

Cận cảnh tôm càng xanh nuôi qua đông. Ảnh: Dương Đình Tường.
Thử nghiệm thả qua đông
Năm thứ nhất anh Quỳnh thả mật độ 10 vạn con/ha, thu hoạch lúc kích cỡ đạt 10 – 15 con/kg. Với sản lượng 5 tấn/ha, giá bán 250.000đ/kg, anh lãi hơn 250 triệu đồng. Mật độ thả cứ duy trì đều đặn như thế cho đến năm 2025, anh quyết định tăng lên gấp đôi, thành 20 vạn con/ha.
Vì nuôi mật độ cao nên anh trang bị thêm nhiều quạt nước tạo oxy, đặc biệt lúc thời tiết thay đổi, tôm dạt vào bờ thì phải bật quạt ngay lập tức. Nuôi dày tôm thường xuyên cắp nhau nên hao hụt nhiều. Bởi thế mật độ thả gấp đôi nhưng sản lượng thu chỉ gấp rưỡi, đạt 7,5 tấn/ha, lãi được 350 triệu đồng.
Không kết thúc vụ nuôi vào mùa đông như thường lệ, tháng 11 năm 2025 anh thả thử nghiệm 10 vạn tôm giống để xem khả năng chịu rét của chúng như thế nào. Dù là năm mùa đông khá ấm nhưng nuôi tôm nghịch vụ tỷ lệ hao hụt vẫn lên tới 70% thay vì 40 – 50% như chính vụ.
“Bình thường thả vụ xuân, mực nước 80 – 100cm là đủ để tôm dễ lột và phát triển nhưng vụ đông phải 150cm trở lên. Ngoài ra tôi còn dùng bạt che hướng gió, dùng các ngọn tre bỏ xuống ao để làm chỗ trú ngụ cho tôm và thả thêm các bè rau muống cho chúng tránh rét.
Mùa đông tôm ăn rất ít, tốc độ lớn chậm, thời gian nuôi kéo dài (8 – 9 tháng thay vì 6 – 7 tháng) nên dự kiến phải gần 2 tháng nữa mới được thu. Tuy nhiên nuôi tôm nghịch vụ cũng có cái lợi là khi mọi người không nuôi được thì mình lại có sản phẩm, giá bán lúc đó chắn chắn sẽ cao hơn bình thường”, anh Quỳnh đúc rút kinh nghiệm.
Nhờ chăm sóc đạt chuẩn, sản phẩm không tồn dư chất cấm cũng như chất độc hại nên anh chẳng những bán nội địa mà còn xuất khẩu sang Trung Quốc trong hai năm liên tiếp…

Ngôi nhà mới xây của anh Lê Như Quỳnh, phần lớn là nhờ nuôi tôm càng xanh. Ảnh: Dương Đình Tường.
Là cán bộ khuyến nông của xã Lạng Phong (cũ), nay là xã Nho Quan, anh Quỳnh không ngừng tuyên truyền để lan tỏa mô hình nuôi tôm càng xanh ở quê mình. Tuy nhiên, phải đến tận năm thứ ba mới có 5 hộ nuôi thử trên diện tích 3ha, năm thứ tư mở rộng ra 10ha. Hiện xã Nho Quan có khoảng 30ha tôm càng xanh, chủ yếu nuôi quảng canh trong ao đất.
Ở xã Văn Phú (cũ), nay là xã Thanh Sơn, nông dân ngoài nuôi tôm càng xanh trong ao đất còn nuôi cả trên ruộng lúa. Trước tiên, tôm được nuôi trong ao đất có quây lưới, khi đạt kích cỡ 200 con/kg thì thả ra đồng lúc đã thu hoạch xong lúa, dâng nước cao lên. Ở mô hình này, cá được nuôi kèm với mục đích ăn rong rêu, ăn gốc lúa cho đỡ bị thối nước để bảo vệ đối tượng nuôi chính là con tôm càng xanh.
Tôm càng xanh không chịu được nhiệt độ thấp, thường dưới 10 độ C là chết nên bà con thường thả giống vào tháng 3, 4, thu vào tháng 10. Nuôi tôm trên ruộng thức ăn tự nhiên nhiều nên ít cần bổ sung thức ăn công nghiệp và không cần phải thay nước mà tốc độ lớn vẫn rất nhanh, sau 5 – 6 tháng có thể đạt trọng lượng 10 con/kg, bán rất được giá.
Hiện xã Thanh Sơn có 725ha lúa, cá, tôm càng xanh kết hợp như vậy, có hộ nuôi tới 10ha như anh Phùng Văn Hiệp thu lãi vài trăm triệu đồng mỗi vụ. Về thị trường, có lúc giá lên rồi lại xuống nhưng nông dân xã Thanh Sơn nuôi tôm trên ruộng không mấy ai bị lỗ, chỉ có lãi ít hay nhiều mà thôi.
“Nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú nhanh thu, nhanh giàu nhưng cũng đầy rủi ro bởi nhiều dịch bệnh nguy hiểm, lắm người phải bán nhà trả nợ. Tôm càng xanh ít bệnh, chủ yếu là bệnh đen mang thì xử lý đáy ao, bệnh đóng rong khiến tôm không lột cũng xử lý đáy ao, đồng thời cho ăn thêm men tiêu hóa”, anh Lê Như Quỳnh chia sẻ kinh nghiệm.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
