Tiếp tục ưu tiên các đối tượng nuôi biển truyền thống, tính toán nuôi cá ngừ đại dương
Nuôi biển hiện đã có định hướng rõ ràng theo Quyết định số 1664/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thực tế cho thấy lĩnh vực này đang có những chuyển biến tích cực, với sản lượng năm 2024 đạt khoảng 830.000 tấn; năm 2025 ước trên 850.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu vượt 1 tỷ USD.
Tuy nhiên, nhiều thách thức vẫn đặt ra: Nuôi gần bờ gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả kinh tế chưa cao, tỷ lệ sống thấp, tốc độ tăng trưởng chậm, chi phí thức ăn lớn, tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh… Vì vậy, chuyển dịch ra nuôi biển xa bờ là xu hướng tất yếu trong thời gian tới.

Chuyển dịch ra nuôi biển xa bờ là xu hướng tất yếu trong thời gian tới. Ảnh: Hồng Thắm.
Thực tiễn sản xuất sẽ đặt ra yêu cầu và khoa học công nghệ cần đi trước để đáp ứng. Việc phát triển các đối tượng nuôi cần được triển khai đồng bộ, nhưng để nâng tầm quy mô sản xuất hàng hóa, hướng mạnh tới xuất khẩu vẫn là bài toán cần tiếp tục giải. Cùng với đó, đầu tư hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển.
Tại họp báo thông tin về Hội nghị Khoa học, Công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Triển lãm VinaFis Expo 2026 vừa diễn ra tại Hà Nội, một nhà báo đã đặt câu hỏi: Để nuôi biển Việt Nam tăng tốc, đâu là những đối tượng cần được ưu tiên phát triển?
Trả lời cho câu hỏi này, ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, để phát triển nuôi biển hiệu quả, trước hết cần tiếp tục ưu tiên các đối tượng nuôi truyền thống, có tiềm năng và đã được hoàn thiện quy trình công nghệ như cá song, cá giò, cá chẽm, cá chim trắng, tôm hùm… Trong thời gian tới, những đối tượng này, với lợi thế về công nghệ nuôi, kỹ thuật và nguồn giống ổn định, sẽ tiếp tục là nền tảng để mở rộng sản xuất.
Bên cạnh đó, đối với các loài có giá trị kinh tế cao, kể cả giống nhập khẩu, nếu điều kiện môi trường phù hợp với vùng biển Việt Nam, có thể nghiên cứu, chọn tạo và chủ động sản xuất giống trong nước nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi.
Phát triển rong biển được đánh giá là hướng đi giàu tiềm năng, không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn có thể kết hợp nuôi với nhuyễn thể, qua đó vừa góp phần cải thiện môi trường, vừa tạo ra các sản phẩm có giá trị thương mại.
Bên cạnh đó, một số đối tượng khác như cá ngừ đại dương cũng mở ra nhiều triển vọng. Nếu làm chủ được công nghệ sản xuất giống, đây sẽ là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên. Tuy nhiên, lĩnh vực này đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao, quá trình nghiên cứu còn nhiều thách thức và không hề đơn giản.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến kiểm tra tình hình nuôi cá nhụ, cá cam. Ảnh: Đinh Mười.
Tập trung hoàn thiện khâu nuôi cá nhụ, cá cam
Theo ông Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, yếu tố quyết định thành công của nuôi biển nằm ở việc lựa chọn đúng đối tượng nuôi, trong đó tính thương mại phải được đặt lên hàng đầu như tiêu chí cốt lõi.
Hiện nay, các đối tượng nuôi truyền thống phục vụ thị trường nội địa hiện đã hình thành và phát triển tương đối ổn định. Tuy nhiên, để tạo bước đột phá cho ngành, cần định hướng lựa chọn những đối tượng có tiềm năng xuất khẩu, qua đó nâng cao giá trị và gia tăng kim ngạch.
Trong những năm gần đây, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã tập trung nghiên cứu một số đối tượng triển vọng như cá chim, cá nhụ, cá cam… hướng tới mục tiêu phát triển thành các sản phẩm nuôi biển có giá trị kinh tế cao.
Đối với cá chim, công nghệ từ sản xuất giống đến nuôi thương phẩm đã tương đối hoàn thiện. Riêng với hai đối tượng còn khá mới là cá nhụ và cá cam, trong khoảng 2 năm trở lại đây, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã tiếp nhận, tập trung nghiên cứu với sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, bước đầu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và đang triển khai thử nghiệm các mô hình, kỹ thuật nuôi.

Cá cam 20 ngày tuổi. Ảnh: Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam.
“Vừa rồi, chúng tôi nuôi thử nghiệm một lồng cá cam ở Cát Bà (Hải Phòng). Sau khoảng 8 tháng, cá cam phát triển rất tốt, đã lớn gần 1 kg, tuy nhiên tỷ lệ sống chưa đạt như mong muốn. Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu môi trường nuôi, quy trình nuôi để làm sao tăng tỷ lệ sống”, ông Mưu chia sẻ thêm.
Theo ông Trần Thế Mưu, trong thời gian tới, cá cam và cá nhụ cần được ưu tiên hoàn thiện khâu nuôi, nhằm nhân rộng mô hình, tạo ra sản lượng ổn định, đủ quy mô hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Đây là hai đối tượng có giá trị kinh tế cao, đồng thời có thị trường tiêu thụ lớn, đặc biệt tại các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan và Singapore – nơi nhu cầu đang ở mức rất cao.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, để nuôi biển phát triển bền vững, cần tổ chức theo chuỗi giá trị, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu khoa học theo hướng đồng bộ, liên ngành và liên lĩnh vực.
Trong đó, rong tảo biển cần được chú trọng phát triển, đây không chỉ là đối tượng nuôi mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm toàn cầu, trong khi sản lượng hiện nay vẫn chưa đáp ứng nhu cầu chế biến.
Với các đối tượng mới như cá chim vây vàng, cá nhụ, cá cam… đang trong giai đoạn khởi động, Thứ trưởng cho rằng tiềm năng thị trường rất lớn, đặc biệt tại Nhật Bản và Trung Quốc.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
