Bên cạnh chuồng trại hay mức đầu tư, phúc lợi động vật cần được đánh giá trực tiếp trên chính con vật, từ thể trạng, thương tích đến biểu hiện stress và khả năng thể hiện hành vi tự nhiên. Đây là một trong những thay đổi quan trọng được đề xuất cho ngành chăn nuôi Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030.

TS. Nguyễn Thị Hương đề xuất khung chính sách quản trị phúc lợi động vật tại Hội thảo “Phúc lợi động vật – Đề xuất thể chế, chính sách và thực thi”. Ảnh: Kiều Chi.
Theo TS. Nguyễn Thị Hương, Phó trưởng Bộ môn Di truyền và Đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam nhấn mạnh: “Phúc lợi động vật không chỉ được hiểu là không đối xử tàn nhẫn với vật nuôi. Đây là trạng thái tổng hòa về thể chất và tinh thần của con vật, chịu tác động bởi môi trường sống, dinh dưỡng, chăm sóc, vận chuyển và giết mổ”.
Trong cách tiếp cận truyền thống, “5 quyền tự do” được sử dụng rộng rãi để đánh giá phúc lợi động vật, gồm tự do khỏi đói khát; được sống trong điều kiện thoải mái; không bị đau đớn, thương tích, bệnh tật; được thể hiện các hành vi tự nhiên; và không phải chịu sợ hãi, căng thẳng.
Cách tiếp cận hiện đại chuyển dần sang đánh giá dựa trên: dinh dưỡng, môi trường, sức khỏe, hành vi và trạng thái tinh thần. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào trải nghiệm thực tế của con vật thay vì chỉ kiểm tra các điều kiện được bố trí cho chúng.
Điểm đáng chú ý là các tiêu chí đánh giá cần hướng trực tiếp vào vật nuôi. Thể trạng, tỷ lệ thương tích, tỷ lệ què, các biểu hiện stress hay hành vi bất thường có thể phản ánh rõ hơn tình trạng phúc lợi so với việc chỉ kiểm tra diện tích chuồng, thiết bị hoặc mức đầu tư của cơ sở.
Theo chuyên gia VIAVS, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp với điều kiện chăn nuôi của Việt Nam, đồng thời tránh tình trạng các quy định tập trung nhiều vào yêu cầu đầu vào nhưng chưa phản ánh đầy đủ kết quả cuối cùng đối với vật nuôi.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy nhận thức về phúc lợi động vật đang được cải thiện. Ở khâu chăn nuôi, các vấn đề cần được quan tâm gồm mật độ nuôi, chất lượng nền chuồng, tiếng ồn, stress nhiệt và những thao tác có thể gây đau như cắt, thiến hoặc bắt giữ vật nuôi.

Đàn nuôi cần được quan tâm gồm mật độ, chất lượng nền chuồng, tiếng ồn và các điều kiện thao tác. Ảnh: Minh Sáng.
Trong vận chuyển, điều kiện thông thoáng của phương tiện, cách thức chất và dỡ vật nuôi, cũng như thời gian nhịn ăn, uống là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và trạng thái của vật nuôi. Việc vận chuyển trong điều kiện không phù hợp có thể làm gia tăng nguy cơ kiệt sức, stress và thương tích.
Tại cơ sở giết mổ, quá trình dẫn chuyển vật nuôi, cách thức thao tác và thiết bị gây bất tỉnh là những khâu cần được kiểm soát để hạn chế sợ hãi, đau đớn trước khi hạ xẻ.
Để đưa phúc lợi động vật từ nhận thức thành thực hành cụ thể, TS. Nguyễn Thị Hương đề xuất bộ thông điệp “5 Tốt” hướng tới người chăn nuôi, gồm: ăn tốt, ở tốt, khỏe tốt, hành vi tốt và tinh thần tốt. Trong đó, gắn với bảo đảm đủ dinh dưỡng và nước sạch; “ở tốt” là chuồng trại sạch, thông thoáng và an toàn; “khỏe tốt” tập trung vào phòng bệnh chủ động, phát hiện và điều trị sớm. Hai nhóm còn lại nhấn mạnh khả năng vận động, thể hiện tập tính tự nhiên và giảm sợ hãi, đau đớn, stress cho vật nuôi.
VIAVS đề xuất lộ trình 5 bước để triển khai trong giai đoạn 2026-2030. Năm 2026, trọng tâm là chuẩn hóa. Các cơ quan liên quan cần rà soát quy định pháp luật hiện hành, xây dựng bộ tiêu chí và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với từng nhóm vật nuôi như lợn, gia cầm, trâu, bò. Năm 2027, triển khai thí điểm bộ tiêu chí tại một số cơ sở và chuỗi sản xuất trọng điểm, qua đó đánh giá tính khả thi trước khi nhân rộng.
Năm 2028, mở rộng áp dụng, đồng thời đào tạo những lực lượng trực tiếp tham gia chuỗi như người chăn nuôi, lái xe vận chuyển và nhân viên tại cơ sở giết mổ. Năm 2029, tích hợp các chỉ tiêu phúc lợi động vật vào hệ thống quản lý chất lượng, quản lý sức khỏe đàn và tiêu chuẩn thu mua của doanh nghiệp. Năm 2030, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện, điều chỉnh bộ tiêu chí và xây dựng định hướng cho giai đoạn tiếp theo.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
