Từ tiền kiểm sang xã hội hóa và hậu kiểm
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp giống cây trồng.
Trong đó, những sửa đổi liên quan đến nội dung của Luật Trồng trọt được đánh giá sẽ tạo bước chuyển đáng kể trong cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành giống.

Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam. Ảnh: Tùng Đinh.
Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam (VSTA) cho rằng, định hướng xuyên suốt của dự thảo là cụ thể hóa tinh thần cải cách của Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP, chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, trao nhiều quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Một trong những nội dung được doanh nghiệp kỳ vọng nhất là cải cách hoạt động khảo nghiệm giống cây trồng. Theo đó, dự thảo luật hướng tới xã hội hóa hoàn toàn công tác khảo nghiệm thay vì cơ quan quản lý nhà nước chỉ định tổ chức khảo nghiệm như trước.
“Đây là bước thay đổi quan trọng bởi năng lực khảo nghiệm của các tổ chức ngoài công lập hiện đã phát triển mạnh, đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ”, ông Định nhấn mạnh.
Đối với khảo nghiệm DUS (tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định), Việt Nam hiện được đánh giá có trình độ chuyên môn cao trong khu vực, đội ngũ cán bộ được đào tạo sâu với sự hỗ trợ của UPOV và APSA, đã tham gia đào tạo cán bộ khảo nghiệm cho nhiều quốc gia lân cận.
Tuy nhiên, để việc xã hội hóa thực sự phát huy hiệu quả, cần giải quyết bài toán về bộ mẫu chuẩn của các giống cây trồng, đặc biệt đối với lúa và ngô. Đây là cơ sở quan trọng để đối chiếu khi đánh giá tính khác biệt của giống mới nhưng hiện vẫn được lưu giữ tập trung tại cơ quan nhà nước.

Các thủ tục được cắt giảm kỳ vọng sẽ giúp các đơn vị nghiên cứu giống hoạt động hiệu quả hơn. Ảnh: Tùng Đinh.
Cụ thể, việc khảo nghiệm được nêu rõ là phải tuân thủ TCVN và đơn vị khảo nghiệm phải tự chịu trách nhiệm. Tuy vậy, cộng đồng doanh nghiệp giống vẫn lo ngại về tính minh bạch của khảo nghiệm DUS, sự khác biệt theo quy định của UPOV tối thiểu chỉ là 1 tính trạng và cách nhau 2 bước nhảy theo tính toán thống kê.
Ngoài ra, việc chọn giống tương tự để so sánh cần có cơ sở dữ liệu về giống và có phần mềm để lựa chọn giống tương tự gần nhất nhằm đánh giá tính mới của giống. Hiện những điều kiện này chỉ có ở Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống cây trồng Quốc gia.
Theo phân tích của ông Định, nếu không có cơ chế tiếp cận thuận lợi đối với nguồn mẫu chuẩn thì việc xã hội hóa khảo nghiệm DUS sẽ khó đạt được mục tiêu như kỳ vọng.
Trong khi đó, khảo nghiệm VCU (giá trị canh tác và giá trị sử dụng) hiện được xem là một trong những thủ tục khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian và chi phí nhất.
Đối với các cây trồng chính, quy trình khảo nghiệm phải trải qua nhiều cấp độ, từ khảo nghiệm hẹp, khảo nghiệm rộng đến khảo nghiệm có kiểm soát, thường kéo dài tối thiểu hai năm.
Khoảng thời gian này được đánh giá là quá dài trong bối cảnh công nghệ chọn tạo giống liên tục đổi mới, nhu cầu thị trường thay đổi nhanh và vòng đời của nhiều giống cây ngày càng ngắn. Khi giống được cấp phép lưu hành thì không ít trường hợp thị trường đã xuất hiện các giống ưu việt hơn.

Các giống ngô thực phẩm cần được đưa ra khỏi danh mục cây trồng chính. Ảnh: Tùng Đinh.
Chưa kể, quy định vùng sinh thái phải khảo nghiệm trong TCVN hiện cũng khá phức tạp và nhiều vùng duy trì cơ bản các vùng như trước đây. Điều này là không cần thiết và cũng gây tốn kém chi phí khảo nghiệm bởi thực tế các giống đã được lưu hành ở miền Bắc cũng rất phát huy ở miền Trung, Tây Nguyên, duy ĐBSCL là bộ giống có tính chọn lọc cao hơn, nông dân nhạy bén hơn trong áp dụng.
“Cởi trói” thủ tục tự công bố lưu hành giống
Một nội dung cải cách khác được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là cơ chế tự công bố lưu hành giống cây trồng.
Theo ông Trần Xuân Định, dự thảo luật đã thể hiện rõ tinh thần cải cách khi bỏ khâu thẩm định hồ sơ đối với các giống thuộc diện tự công bố. Thay vì phải nộp hồ sơ để cơ quan quản lý xem xét, doanh nghiệp sẽ tự chịu trách nhiệm về hồ sơ, lưu giữ đầy đủ tài liệu và công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hoặc cổng thông tin điện tử theo quy định để phục vụ công tác hậu kiểm và xuất, nhập khẩu hạt giống.
Theo cách tiếp cận này, Nhà nước chuyển vai trò từ “duyệt trước” sang “giám sát sau”, vừa giảm đáng kể thời gian xử lý thủ tục, vừa nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm.
Ông Định cho rằng đây là mô hình quản lý phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay cũng như thông lệ của nhiều quốc gia phát triển. Liên quan tới vấn đề này, phía VSTA cũng đề xuất bỏ thời hạn lưu hành đối với giống cây trồng.

Các doanh nghiệp mong muốn có sự thay đổi trong quy định về tự công bố lưu hành giống cây trồng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo quy định hiện hành, giống cây hàng năm được lưu hành trong thời hạn 20 năm, còn giống cây lâu năm là 25 năm. Khi hết thời hạn, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục gia hạn mặc dù trên thực tế chất lượng giống không thay đổi và vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo ông Định, việc duy trì quy định này làm phát sinh thêm chi phí và thủ tục hành chính không cần thiết. Nếu bỏ thời hạn lưu hành, trong khi vẫn duy trì thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định hiện hành sẽ vừa giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm tính tương thích với các cam kết và thông lệ quốc tế về bảo hộ giống cây trồng.
Bên cạnh đó, ông Trần Xuân Định cũng cho biết từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, Hiệp hội đề xuất xem xét điều chỉnh danh mục cây trồng chính đối với một số nhóm ngô thực phẩm như ngô nếp, ngô ngọt và ngô rau. Đây là những giống có chu kỳ đổi mới rất nhanh, phụ thuộc lớn vào nhu cầu tiêu dùng và xu hướng thị trường. Nếu vẫn áp dụng đầy đủ quy trình khảo nghiệm VCU và công nhận lưu hành như các cây trồng chính khác, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian đưa giống mới ra thị trường, làm giảm lợi thế cạnh tranh và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Theo lý giải của ông Định, các giống ngô này phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ, xen vụ và xây dựng các vùng nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu (ngô rau, ngô ngọt), còn ngô nếp thường sản xuất ở các vùng cận đô thị phục vụ nhu cầu ăn tươi quanh năm, thời gian trồng chỉ 65 – 75 ngày tùy vùng, vụ.

Với các giống cây trồng nhập khẩu, cần có thay đổi liên quan tới vấn đề thương hiệu. Ảnh: Tùng Đinh.
Việc mất thời gian, công sức để khảo nghiệm rồi công nhận lưu hành đối với nhóm giống ngô này khiến doanh nghiệp mất vài năm mới được lưu hành giống và đưa ra sản xuất, lúc đó thị trường có thể đã thay đổi, giống khác ngon hơn, tốt hơn đã ra đời khiến các đơn vị nghiên cứu sản xuất giống luôn lạc hậu về công nghệ.
Tránh đầu cơ thương hiệu
Bên cạnh các thủ tục hành chính, vấn đề quản lý tên giống cũng được xem là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Theo ông Trần Xuân Định, quy định hiện hành đang bộc lộ nhiều bất cập trong thực tiễn.
Đối với nhiều giống nhập khẩu, cùng một giống có thể được nhiều doanh nghiệp phân phối tại Việt Nam. Mỗi doanh nghiệp đều mong muốn xây dựng thương hiệu riêng nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Để thích ứng, nhiều doanh nghiệp buộc phải thêm các ký tự hoặc hậu tố phía sau tên giống gốc để phân biệt thương hiệu và vẫn được cơ quan quản lý chấp nhận công bố lưu hành. Đây chỉ là giải pháp tình thế.
Thực tế còn xuất hiện tình trạng một số tổ chức hoặc cá nhân không trực tiếp kinh doanh giống nhưng đăng ký tên giống trước, sau đó chuyển nhượng hoặc yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu thực sự phải mua lại quyền sử dụng tên. Điều này không chỉ làm tăng chi phí mà còn tạo ra những tranh chấp không đáng có.
Về lâu dài, cần có quy định rõ ràng hơn đối với việc sử dụng tên giống của nhà chọn tạo hoặc nhà cung cấp tên gốc. Theo đó, các doanh nghiệp đều có quyền sử dụng tên gốc khi nhập khẩu cùng một giống, ngoại trừ trường hợp giống được chuyển giao độc quyền và đã được đăng ký bảo hộ hợp pháp tại Việt Nam.
Cách tiếp cận này sẽ bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, hạn chế tình trạng đầu cơ tên giống và phù hợp với thông lệ quốc tế trong thương mại giống cây trồng.

Vấn đề quản lý tên giống cũng là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Ảnh: NNVN.
Để Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất giống
Một nội dung khác được VSTA nêu ra là tháo gỡ các quy định liên quan đến nhập khẩu vật liệu bố mẹ và gia công giống phục vụ xuất khẩu.
Theo quy định hiện nay, doanh nghiệp chỉ được nhập khẩu hạt giống bố mẹ khi giống lai F1 tương ứng đã được công nhận lưu hành tại Việt Nam. Đồng thời chỉ được xuất khẩu những giống đã được công nhận lưu hành.
Ông Trần Xuân Định cho rằng, quy định này phù hợp với mục tiêu quản lý trong giai đoạn trước, nhưng hiện nay đã trở thành rào cản đối với hoạt động nghiên cứu, sản xuất và xuất khẩu giống.
Lý do là nhiều doanh nghiệp có nhu cầu sản xuất các giống mới chưa được công nhận lưu hành chỉ để xuất khẩu. Vì vậy cần bổ sung cơ chế cho phép nhập khẩu và gia công các giống chưa lưu hành tại Việt Nam nếu toàn bộ sản phẩm được xuất khẩu.
Theo ông Định, Việt Nam có nhiều lợi thế về điều kiện sinh thái, nguồn nhân lực và kinh nghiệm sản xuất hạt giống. Nếu chính sách được tháo gỡ, nước ta hoàn toàn có thể trở thành trung tâm gia công và sản xuất giống cho khu vực, thu hút thêm đầu tư, tạo việc làm cho nông dân và nâng cao giá trị gia tăng của ngành giống.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
