Thay đổi nhận thức và phương thức sản xuất của người dân
Nhật Bản được đánh giá là một trong những thị trường có yêu cầu nghiêm ngặt hàng đầu đối với nông sản nhập khẩu. Với quả vải tươi, ngoài các quy định chặt chẽ về kiểm dịch thực vật, thị trường này còn áp dụng hệ thống giới hạn dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật (MRL) đối với từng hoạt chất cụ thể.
Chỉ cần một hoạt chất vượt ngưỡng cho phép hoặc lô hàng không đáp ứng đúng quy định của nước nhập khẩu, sản phẩm có thể bị cảnh báo, thậm chí bị từ chối nhập khẩu. Vì vậy, với thị trường khó tính như Nhật Bản, mỗi lô vải thiều xuất khẩu không chỉ là kết quả của một vụ sản xuất mà còn là thước đo năng lực quản lý vùng trồng, kiểm soát chất lượng sản phẩm và tổ chức chuỗi liên kết.
Từ yêu cầu đó, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh Bắc Ninh xác định kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật không thể chỉ thực hiện ở giai đoạn trước thu hoạch. Công việc này phải được quản lý xuyên suốt quá trình sản xuất, từ chăm sóc, phòng trừ sinh vật gây hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến thu hoạch, sơ chế và đóng gói. Chất lượng sản phẩm được đặt ở vị trí trung tâm, là điều kiện quyết định để giữ vững thị trường xuất khẩu.

Vườn vải của gia đình ông Lục văn Tặng, thôn Na Hem, xã Sơn Hải (tỉnh Bắc Ninh) áp dụng IPHM. Ảnh: Phạm Minh.
Một trong những giải pháp quan trọng đang được triển khai là chương trình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM). Trước đây, nhiều hộ trồng vải chủ yếu dựa vào thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh, nhất là sâu đục quả vải. Việc sử dụng thuốc theo thói quen trong thời gian dài dễ dẫn đến hiện tượng dịch hại quen thuốc, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên quả vải.
Từ khi áp dụng IPHM, nhận thức và phương thức sản xuất của người dân đã có sự thay đổi rõ rệt. Người trồng vải dần chuyển từ tư duy phòng trừ dịch hại bằng thuốc bảo vệ thực vật sang quản lý hệ sinh thái vùng trồng. Nông dân thường xuyên thăm vườn, theo dõi mật độ sinh vật gây hại, bảo vệ các loài thiên địch, tăng cường biện pháp canh tác, ưu tiên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học và chỉ dùng thuốc hóa học khi thật sự cần thiết.
Việc ứng dụng IPHM đang từng bước được nhân rộng tại các vùng trồng vải xuất khẩu của tỉnh Bắc Ninh. Đây được xem là điều kiện quan trọng giúp kiểm soát tốt sinh vật gây hại, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm an toàn thực phẩm và đáp ứng các yêu cầu về kiểm dịch thực vật theo quy định, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam và Nhật Bản thực hiện trong hoạt động xuất khẩu trái cây tươi.
Tại thôn Na Hem, xã Sơn Hải – vùng vải được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu sang Nhật Bản từ năm 2020, việc tuân thủ quy trình sản xuất an toàn đã trở thành thói quen của các hộ dân. Những yêu cầu như sử dụng thuốc đúng danh mục, tuân thủ thời gian cách ly, ghi chép nhật ký sản xuất phục vụ truy xuất nguồn gốc không còn là việc làm hình thức mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để giữ uy tín vùng trồng.
Ông Lục Văn Tặng, Trưởng mã vùng sản xuất vải thôn Na Hem cho biết: “Người dân trong vùng trồng hiểu rằng để quả vải có thể xuất khẩu sang Nhật Bản, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Bà con luôn tuân thủ hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng danh mục do cơ quan chuyên môn khuyến cáo, tuân thủ nguyên tắc ‘4 đúng’ và đảm bảo thời gian cách ly, đồng thời ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất để phục vụ truy xuất nguồn gốc”.
Theo ông Tặng, việc tham gia vùng vải xuất khẩu sang Nhật Bản không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn giúp nông dân thay đổi tư duy sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn. Khi sản phẩm hướng đến thị trường có tiêu chuẩn khắt khe, người dân buộc phải sản xuất bài bản hơn, kiểm soát tốt hơn từng khâu và có trách nhiệm hơn với sản phẩm của mình.

Ông Vũ Trí Đồng (bên phải), Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Ninh đi kiểm tra vùng trồng vải áp dụng chương trình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM). Ảnh: Phạm Minh.
IPHM không chỉ giúp người sản xuất chủ động quản lý sinh vật gây hại, giảm phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học, nâng cao sức khỏe cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái mà còn là giải pháp quan trọng để tạo ra sản phẩm an toàn. Đây chính là nền tảng để quả vải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật của thị trường nhập khẩu.
Cùng với chuyển biến từ phía người sản xuất, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Ninh đã chủ động bố trí kinh phí phục vụ công tác lấy mẫu quả vải để phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại các vùng trồng xuất khẩu, đặc biệt là vùng phục vụ thị trường Nhật Bản.
Công tác điều tra, giám sát các đối tượng sinh vật gây hại thuộc diện kiểm dịch thực vật cũng được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo các lô hàng không vi phạm quy định của nước nhập khẩu.
Giữ vững niềm tin của đối tác nhập khẩu
Ông Vũ Trí Đồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Ninh cho biết: “Chi cục đã tập trung hướng dẫn người dân mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, từng bước phát triển các mô hình canh tác theo hướng hữu cơ, đẩy mạnh ứng dụng chương trình IPHM, tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học nhằm giảm nguy cơ tồn dư hoạt chất trên quả vải”.
Theo ông Đồng, kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại là yêu cầu bắt buộc nếu muốn duy trì ổn định những thị trường khó tính. Việc này không chỉ liên quan đến một lô hàng cụ thể mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín vùng trồng, doanh nghiệp xuất khẩu và thương hiệu vải thiều Bắc Ninh trên thị trường quốc tế.
Ông Đồng nhấn mạnh: “Việc kiểm soát chặt chẽ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại không chỉ giúp quả vải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của thị trường Nhật Bản mà còn góp phần giữ vững niềm tin của đối tác nhập khẩu, tránh nguy cơ các lô hàng bị cảnh báo hoặc trả lại, qua đó hạn chế thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp và người sản xuất”.

Lô vải thiều của Công ty Mova Plus chuẩn bị xuất khẩu. Ảnh: Phạm Minh.
Hiện tỉnh Bắc Ninh quản lý 40 mã số vùng trồng vải xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Để có những lô vải tươi xuất khẩu thành công, ngoài việc hướng dẫn các vùng trồng tuân thủ tiêu chuẩn khắt khe của thị trường Nhật Bản, cơ quan chuyên môn còn triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó lấy việc nâng cao chất lượng sản phẩm làm trọng tâm.
Kết quả xuất khẩu cho thấy những giải pháp này đang phát huy hiệu quả. Đến nay, các lô vải thiều xuất khẩu sang các thị trường đã đạt hơn 20 nghìn tấn, trong đó thị trường Nhật Bản khoảng 200 tấn. Các lô vải thiều được xuất khẩu bởi các doanh nghiệp có kinh nghiệm và luôn đồng hành cùng vùng trồng từ đầu vụ sản xuất như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thực phẩm Toàn Cầu, Công ty cổ phần Amei Việt Nam, Công ty TNHH Rồng Đỏ, Công ty Mova Plus, Dragon Berry…
Sự tham gia của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc kết nối yêu cầu thị trường với thực tế sản xuất. Khi doanh nghiệp đồng hành từ đầu vụ, người dân được tiếp cận sớm các yêu cầu kỹ thuật, từ đó điều chỉnh quy trình chăm sóc, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch và hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc. Điều này giúp giảm rủi ro ở khâu cuối cùng, đồng thời tăng khả năng đáp ứng ổn định các đơn hàng xuất khẩu.
Trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật đối với nông sản ngày càng được siết chặt, việc duy trì vùng trồng đạt tiêu chuẩn, kiểm soát tốt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thực hiện hiệu quả IPHM và bảo đảm các quy định kiểm dịch thực vật sẽ là chìa khóa để vải thiều Bắc Ninh tiếp tục giữ vững chỗ đứng tại thị trường Nhật Bản.
Từ sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân, sự đồng hành của cơ quan chuyên môn và việc áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, vải thiều Bắc Ninh đang từng bước khẳng định vị thế tại những thị trường khó tính. Mỗi quả vải xuất khẩu là minh chứng cho quá trình chuyển đổi sang nền sản xuất xanh, an toàn và bền vững.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
