Sản lượng tôm nước lợ 9 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 1,07 triệu tấn, bằng 76,6% kế hoạch. Ngành thủy sản tập trung kiểm soát dịch bệnh, quản lý môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất trong những tháng cuối năm.
Ngày 15/10, tại phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo chuyên đề bàn giải pháp bảo đảm kế hoạch sản xuất tôm nước lợ năm 2026.

Ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư thông tin tình hình sản xuất tôm nước lợ trong 9 tháng đầu năm và kế hoạch hoàn thành mục tiêu trong quý IV. Ảnh: Trọng Linh.
Hội thảo tập trung đánh giá tình hình sản xuất tôm nước lợ, nhận diện khó khăn, thách thức trong những tháng cuối năm. Đồng thời đề xuất giải pháp kiểm soát dịch bệnh, quản lý môi trường, nâng cao tỷ lệ nuôi thành công và bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Sản lượng tôm đạt gần 1,1 triệu tấn
Ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết trong 9 tháng đầu năm 2026, diện tích thả nuôi tôm nước lợ đạt khoảng 741.300 ha, tương đương 98,8% kế hoạch. Sản lượng thu hoạch đạt hơn 1,072 triệu tấn, bằng 76,6% kế hoạch năm. Trong đó, tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 791.400 tấn, tôm sú đạt 281.500 tấn.
Theo ông Thế Anh, ngành tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với xuất khẩu thủy sản, với thị trường tiêu thụ tại khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, sản xuất đang chịu sức ép từ chi phí đầu vào, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và cạnh tranh quốc tế.
Theo kế hoạch năm 2026, ngành tôm nước lợ phấn đấu đạt sản lượng 1,4 triệu tấn. Như vậy, trong quý IV, toàn ngành cần thu hoạch thêm khoảng 327.200 tấn. Để hoàn thành mục tiêu, các địa phương cần rà soát diện tích đang nuôi, đánh giá sản lượng có khả năng thu hoạch và chủ động phương án sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế.
Bên cạnh yêu cầu về sản lượng, phòng, chống dịch bệnh và quản lý môi trường tiếp tục là những nhiệm vụ trọng tâm. Số liệu cập nhật đến ngày 8/10 của Cục Thủy sản và Kiểm ngư ghi nhận diện tích tôm nước lợ bị bệnh đốm trắng gần 420 ha, bệnh hoại tử gan tụy cấp gần 158 ha và bệnh do vi bào tử trùng EHP gần 20 ha.

Sản lượng tôm nước lợ 9 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 1,07 triệu tấn. Ảnh: Trọng Linh.
Diễn biến thời tiết bất lợi, biến động nhiệt độ, độ mặn và chất lượng nguồn nước có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm nuôi và hiệu quả sản xuất. Do đó, việc tăng cường quan trắc, cảnh báo sớm và hướng dẫn người nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn cuối năm.
Ngành tôm cần đổi mới để nâng sức cạnh tranh
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết ngành thủy sản đặt mục tiêu tăng trưởng 5,12% trong năm 2026; đến hết tháng 9, mức tăng trưởng đạt 4,94%. Trong đó, tôm tiếp tục là ngành hàng chủ lực, đóng góp khoảng 40–45% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành.
Theo ông Luân, Cà Mau, Cần Thơ và An Giang giữ vai trò quan trọng, chiếm khoảng 87% sản lượng và tỷ trọng xuất khẩu tôm cả nước theo số liệu được nêu tại hội thảo. Đây là những địa phương có vai trò lớn trong duy trì sản lượng, bảo đảm nguồn nguyên liệu và nâng cao sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.
Tuy nhiên, ngành tôm vẫn đối mặt với nhiều thách thức, nhất là chất lượng con giống, vật tư đầu vào, biến đổi khí hậu và sức ép cạnh tranh quốc tế. Ông Luân lưu ý, nếu không kiểm soát tốt chất lượng và mầm bệnh ngay từ cơ sở sản xuất giống, người nuôi sẽ phải đối mặt với rủi ro và thiệt hại trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, diễn biến thời tiết cực đoan và nguy cơ El Niño đặt ra yêu cầu chủ động hơn trong quản lý nguồn nước, môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Theo ông Luân, nếu kiểm soát tốt dịch bệnh, tổ chức sản xuất phù hợp và nâng cao tỷ lệ nuôi thành công trong giai đoạn khó khăn, ngành tôm có thể chủ động nguồn nguyên liệu, đồng thời tận dụng cơ hội khi nguồn cung thế giới biến động.
Đề cập sức ép cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu tôm như Ecuador và Ấn Độ, ông Luân cho rằng Việt Nam cần đổi mới phương thức sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong chọn giống, quản lý sức khỏe tôm nuôi và giảm giá thành. Nâng cao tỷ lệ sống của tôm qua từng vụ nuôi là một trong những giải pháp quan trọng để cải thiện hiệu quả sản xuất.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư đang thúc đẩy xây dựng ứng dụng đăng ký mã số cơ sở nuôi, hỗ trợ quản lý và truy xuất nguồn gốc. Khi lô hàng xuất khẩu bị cảnh báo, cần xác định chính xác nguyên nhân, truy xuất đến trang trại và lô giống liên quan để có biện pháp khắc phục phù hợp.
Cùng với đó, ngành tôm cần chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học và vi sinh hiệu quả, thực chất; đồng thời phát huy vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác trong kết nối người nuôi với nhà khoa học, doanh nghiệp cung ứng vật tư và doanh nghiệp chế biến.
Tăng cường liên kết, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị
Quản lý chất lượng tôm giống, phòng, chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất an toàn là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, năng suất và hiệu quả của các vụ nuôi. Thực tế tại các địa phương cho thấy nguồn giống chưa đồng đều, sự phụ thuộc vào nguồn cung ngoài tỉnh và tình trạng giống không rõ nguồn gốc vẫn tiềm ẩn rủi ro.
Vì vậy, việc tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất, ương dưỡng và kinh doanh tôm giống, kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và mầm bệnh cần được thực hiện thường xuyên. Đồng thời, liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp cung ứng vật tư và cơ sở chế biến cần được củng cố.

Toàn cảnh buổi hội thảo. Ảnh: Trọng Linh.
Việc hình thành vùng nguyên liệu ổn định, áp dụng tiêu chuẩn sản xuất phù hợp và tăng cường truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu thị trường, nâng cao giá trị tôm nguyên liệu. Các địa phương cần phối hợp với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người nuôi để cập nhật tình hình sản xuất, môi trường, dịch bệnh và sản lượng có khả năng thu hoạch, từ đó chủ động điều chỉnh phương án sản xuất.
Theo ông Trần Đình Luân, sức cạnh tranh của tôm Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào từng hộ nuôi hay doanh nghiệp riêng lẻ mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa người nuôi, cơ quan quản lý, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Đổi mới tư duy sản xuất, kiểm soát tốt đầu vào, giảm giá thành và tăng cường liên kết chuỗi là những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản của tỉnh Cà Mau ước đạt 971.000 tấn. Ảnh: Trọng Linh.
Cà Mau ưu tiên hiệu quả, an toàn trong sản xuất
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản của tỉnh ước đạt 971.000 tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Riêng sản lượng tôm đạt khoảng 454.000 tấn, trong đó tôm nuôi đạt 439.400 tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ.
Năm 2026, Cà Mau đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản đạt 1,335 triệu tấn, trong đó sản lượng tôm đạt 624.000 tấn, riêng tôm nuôi khoảng 605.000 tấn. Để duy trì đà tăng trưởng, tỉnh định hướng rà soát diện tích đang nuôi, đánh giá khả năng thu hoạch trong những tháng cuối năm và phân loại vùng nuôi theo mức độ rủi ro.
Một trong những yêu cầu được đặt ra là không phát triển diện tích bằng mọi giá khi điều kiện hạ tầng, nguồn nước và năng lực kiểm soát dịch bệnh chưa bảo đảm. Thay vào đó, cần ưu tiên các vùng nuôi có điều kiện phù hợp, duy trì diện tích sản xuất hiệu quả và nâng cao khả năng cung cấp sản lượng hàng hóa ổn định.
Cà Mau cũng xác định tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi tập trung; kiểm soát chặt chất lượng, nguồn gốc tôm giống và tình hình dịch bệnh; hướng dẫn người dân sử dụng thuốc thú y thủy sản, hóa chất và chế phẩm sinh học đúng quy định.
Đối với các mô hình quảng canh cải tiến, tôm – rừng và tôm – lúa, tỉnh định hướng nâng cao chất lượng con giống, quản lý môi trường và bố trí mật độ nuôi phù hợp. Với mô hình thâm canh, siêu thâm canh, việc ứng dụng tự động hóa, cảm biến môi trường, cho ăn tự động và hệ thống cảnh báo sớm được khuyến khích nhằm giảm rủi ro, tiết kiệm chi phí.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
