Tiếp cận giải pháp canh tác tiên tiến
Gắn bó với cây sầu riêng hơn hai thập kỷ, ông Nguyễn Văn Sứ ở thôn 4, xã Quảng Phú, tỉnh Đắk Lắk đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Cũng như nhiều nông dân khác, những năm đầu canh tác, gia đình ông chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay nước tưới chưa thực sự khoa học khiến chi phí sản xuất cao, hiệu quả chưa ổn định.

Các doanh nghiệp trong và ngoài nước như Bayer, Syngenta, Yara, Bình Điền cùng nhiều đơn vị khác triển khai các mô hình sản xuất sầu riêng bền vững. Ảnh: Phương Chi.
Bước ngoặt đến vào năm 2011 khi gia đình ông Sứ quyết định tái canh toàn bộ diện tích theo hướng bài bản hơn. Vườn được thiết kế với mật độ trồng thưa, khoảng cách 9m giữa các cây nhằm tạo độ thông thoáng và hạn chế sâu bệnh. Các biện pháp tỉa cành, tạo tán được thực hiện thường xuyên giúp cây sinh trưởng cân đối, tăng khả năng đậu trái, nâng cao chất lượng quả.
Thay đổi lớn nhất là khi vườn sầu riêng của ông được chọn làm mô hình trình diễn với sự hỗ trợ của các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cùng các đối tác quốc tế. Từ đây, gia đình ông tiếp cận hàng loạt giải pháp canh tác hiện đại, từ quản lý dinh dưỡng, tưới nước tiết kiệm đến phòng trừ sâu bệnh theo hướng khoa học.
Nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng nghiêm ngặt. Hệ thống tưới nhỏ giọt giúp kiểm soát độ ẩm, hạn chế thất thoát nước và giảm áp lực trong những đợt nắng nóng kéo dài. Nhờ đó, chi phí sản xuất giảm khoảng 12 – 15% mỗi vụ, trong khi năng suất và chất lượng trái được cải thiện đáng kể.

Tỷ lệ trái loại A trong vườn sầu riêng của ông Nguyễn Văn Sứ đạt cao. Ảnh: Phương Chi.
Theo ThS Đỗ Văn Chung, Phó Trưởng Bộ môn Hệ thống nông nghiệp (WASI), thời gian qua, Viện đã phối hợp với nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước như Bayer, Syngenta, Yara, Bình Điền cùng nhiều đơn vị khác triển khai các mô hình điểm. Thông qua các mô hình này, nông dân được hỗ trợ vật tư nông nghiệp, tiếp cận các giải pháp canh tác tiên tiến cũng như giải pháp quản lý nước và tưới tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Quá trình theo dõi mô hình trong nhiều năm cho thấy các chỉ tiêu về sâu bệnh, tỷ lệ đậu trái, năng suất và chất lượng đất đều được cải thiện rõ rệt. Việc giảm lượng vật tư đầu vào, giảm số lần phun thuốc nhưng vẫn duy trì hiệu quả sản xuất đã chứng minh tính đúng đắn của hướng canh tác mới.
“Chúng tôi tập trung vào việc tối ưu hóa đầu vào, quản lý nước tưới hợp lý và áp dụng các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Điều này không chỉ giúp người dân giảm chi phí mà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường sản xuất”, ThS Đỗ Văn Chung cho biết.
Quản lý dinh dưỡng chính xác, giảm phát thải
Nếu như ngành hàng sầu riêng đang chuyển mình để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu thì ngành cà phê cũng đứng trước áp lực phải thay đổi nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn phát triển bền vững toàn cầu.

Các mô hình canh tác giảm phát thải đang triển khai tại Tây Nguyên mang lại kết quả tích cực. Ảnh: Phương Chi.
Trong bối cảnh đó, dự án hợp tác giữa Enveritas và WASI, với sự tài trợ của JDE, Nestlé và Smucker đã mang lại những kết quả tích cực trong việc giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng cà phê Tây Nguyên.
Dự án được triển khai từ năm 2022 đến tháng 6/2026 với mục tiêu xây dựng mô hình quản lý dinh dưỡng hợp lý, giảm sử dụng phân bón hóa học nhưng vẫn duy trì năng suất, đồng thời cải thiện sức khỏe đất, nâng cao lợi nhuận cho nông dân.
Theo các nhà khoa học của WASI, một thực tế phổ biến hiện nay là nhiều nông dân vẫn có xu hướng bón phân vượt quá nhu cầu thực tế của cây trồng. Quan niệm “bón càng nhiều, năng suất càng cao” khiến lượng phân bón sử dụng vượt ngưỡng cần thiết, làm tăng chi phí sản xuất và phát thải khí nhà kính.
Để giải quyết vấn đề này, dự án đã triển khai 36 mô hình thử nghiệm tại các tỉnh trồng cà phê trọng điểm gồm Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng. Mỗi mô hình được xây dựng trên diện tích 1ha, trong đó 1/2 diện tích áp dụng quy trình canh tác của nông dân và 1/2 thực hiện theo khuyến cáo của WASI.
Kết quả theo dõi trong ba năm cho thấy lượng đạm, lân và kali tại các lô đối chứng cao hơn đáng kể so với mô hình thử nghiệm. Tuy nhiên, năng suất giữa hai phương thức gần như không có sự chênh lệch lớn.

Các vườn tham gia mô hình sử dụng lượng đạm thấp hơn 25%, lân thấp hơn 50%, kali thấp hơn 10%. Ảnh: Phương Chi.
Đáng chú ý, các mô hình áp dụng quy trình bón phân cân đối, giảm lượng NPK và bổ sung phân hữu cơ, vôi và các nguyên tố trung, vi lượng cho năng suất cao hơn khoảng 5,3%. Hiệu quả kinh tế cũng tăng khoảng 9,2% so với phương thức canh tác truyền thống.
ThS Hoàng Thị Ái Duyên, nghiên cứu viên Bộ môn Hệ thống nông nghiệp của WASI cho biết, lượng đạm trong mô hình được giảm khoảng 25%, lân giảm 50% và kali giảm khoảng 10% so với tập quán sản xuất thông thường.
“Kết quả cho thấy dù giảm lượng phân hóa học nhưng cây vẫn sinh trưởng tốt, năng suất tăng hơn 5%, lợi nhuận tăng khoảng 10%, đặc biệt là giảm đáng kể phát thải khí nhà kính từ hoạt động sản xuất”, ThS Duyên cho biết.
Không chỉ mang lại hiệu quả trên các chỉ số nghiên cứu, mô hình còn tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức của người dân. Ông Hoàng Thế Đàn, nông dân tại xã Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk – một trong những hộ tham gia dự án từ năm 2023 cho biết sau khi được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, ông chuyển sang áp dụng quy trình bón phân theo nhu cầu thực tế của cây trồng, kết hợp quản lý nước tưới, duy trì cây che bóng và trồng xen trong vườn cà phê.
“Ban đầu tôi cũng băn khoăn vì lượng phân giảm khá nhiều. Nhưng sau vài vụ sản xuất, tôi thấy cây vẫn phát triển tốt, năng suất ổn định, trong khi chi phí đầu tư giảm. Đất trong vườn cũng tơi xốp hơn và cây khỏe hơn trước”, ông Đàn chia sẻ.

Nhờ áp dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất, vườn cà phê của ông Hoàng Thế Đàn phát triển tốt, năm 2025 đạt năng suất gần 6 tấn nhân/ha. Ảnh: Phương Chi.
Hiện nay, vườn cà phê 1ha hơn 20 năm tuổi của gia đình ông vẫn phát triển tốt, năm 2025 năng suất đạt gần 6 tấn nhân. Theo ông, việc áp dụng nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng phân bón không chỉ giúp tăng lợi nhuận mà còn góp phần bảo vệ môi trường sản xuất lâu dài.
Theo TS Phan Việt Hà, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, giảm chi phí đầu vào là giải pháp quan trọng giúp ngành cà phê nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp liên tục biến động. Quan trọng hơn, quản lý dinh dưỡng chính xác còn là chìa khóa để giảm phát thải khí nhà kính và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững mà thị trường quốc tế đang yêu cầu.
Bên cạnh việc sử dụng phân bón hợp lý, các giải pháp như tưới nước tiết kiệm, tăng cường phân hữu cơ, trồng cây che bóng và cây trồng xen cũng được khuyến khích áp dụng nhằm nâng cao khả năng hấp thụ carbon, cải thiện độ phì đất và tăng sức chống chịu của hệ thống canh tác trước tác động của biến đổi khí hậu.
Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải và phát triển bền vững, những mô hình tại Tây Nguyên cho thấy con đường chuyển đổi hoàn toàn khả thi. Từ những thay đổi trong cách bón phân, tưới nước hay quản lý vườn cây, một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và thân thiện với môi trường đang từng bước được hình thành trên vùng đất đỏ bazan.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
