Siết mã số vùng trồng, kiểm soát chất lượng từ gốc
Chỉ sau 3 năm xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, sầu riêng đã vươn lên trở thành ngành hàng tỷ USD của nông nghiệp Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước, chiếm gần một nửa tổng giá trị xuất khẩu ngành rau quả. Đây là bước tiến ấn tượng, khẳng định vị thế ngày càng quan trọng của sầu riêng trong cơ cấu nông sản xuất khẩu.

Mô hình sản xuất sầu riêng gắn với mã số vùng trồng và liên kết doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Ảnh: P.H.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng nóng là hàng loạt rủi ro về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc toàn diện ngành hàng, đặc biệt là xây dựng vùng trồng đạt chuẩn gắn với sản xuất xanh và giảm phát thải.
Tây Nguyên, nhất là Đắk Lắk hiện là “thủ phủ” sầu riêng của cả nước với diện tích hơn 40.000ha. Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, địa phương đã từng bước định hướng lại ngành hàng theo hướng chuẩn hóa vùng trồng, tăng cường liên kết chuỗi và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thực tế cho thấy, mô hình sản xuất gắn với mã số vùng trồng và liên kết doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Tại xã Ea Knuếc (Đắk Lắk), ông Lê Văn Hùng, một chủ vườn tham gia chuỗi liên kết cho biết toàn bộ 100ha sầu riêng của nhóm hộ đã được cấp mã số vùng trồng. Quy trình canh tác được kiểm soát chặt chẽ từ vật tư đầu vào đến thu hoạch.
Mỗi hộ tham gia đều phải cam kết tuân thủ quy trình kỹ thuật từ bón phân, sử dụng thuốc BVTV đến xử lý sau thu hoạch. Doanh nghiệp phối hợp giám sát dư lượng, nếu phát hiện bất thường sẽ xử lý ngay. Nhờ đó, sản phẩm giữ được uy tín với đối tác xuất khẩu và đảm bảo tiêu chuẩn thị trường.
Không chỉ Đắk Lắk, các địa phương như Gia Lai, Lâm Đồng cũng đang đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng và xây dựng cơ sở đóng gói đạt chuẩn. Đến nay, cả nước đã có khoảng 1.400 mã số vùng trồng và gần 200 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sầu riêng.
Theo định hướng của ngành nông nghiệp, giai đoạn tới không tập trung mở rộng diện tích sầu riêng bằng mọi giá mà chú trọng nâng cao chất lượng, phát triển vùng trồng theo hướng hữu cơ, tuần hoàn, giảm phát thải. Đây được xem là điều kiện để sầu riêng Việt Nam duy trì thị trường và từng bước nâng cao giá trị.
Bà Ngô Tường Vy, Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất – nhập khẩu trái cây Chánh Thu đánh giá, việc gia tăng mã số vùng trồng là tín hiệu tích cực cho thấy ngành hàng đã có bước tiến sau giai đoạn xuất khẩu chững lại. Tuy nhiên, số lượng mã số được cấp vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất, trong khi nguy cơ bị thu hồi mã do vi phạm quy định vẫn hiện hữu.

Bà Ngô Tường Vy, Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất – nhập khẩu trái cây Chánh Thu đánh giá việc gia tăng mã số vùng trồng là tín hiệu tích cực. Ảnh: P.H.
“Sầu riêng Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nhưng điểm yếu nằm ở sự thiếu đồng bộ trong quản lý và vận hành chuỗi. Từ nông dân, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý cần nhận thức rõ vai trò của mình, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định để chuỗi giá trị vận hành hiệu quả”, bà Vy cho biết.
Gỡ nút thắt chuỗi liên kết, thúc đẩy sản xuất xanh
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành hàng sầu riêng đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc tăng trưởng diện tích quá nhanh trong thời gian ngắn đã kéo theo hệ lụy về chất lượng và quản lý.
Tại nhiều vùng trồng, nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, thiếu kiến thức về sử dụng phân bón và thuốc BVTV. Điều này dẫn đến nguy cơ tồn dư hóa chất vượt ngưỡng cho phép. Thực tế đã ghi nhận nhiều lô hàng bị trả về do vi phạm quy định về chất lượng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín ngành hàng.
Ông Nguyễn Hữu Chiến, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Tân Lập Đông (xã Pơng Drang, Đắk Lắk) cho biết người dân vẫn còn bị động trước các cảnh báo về dư lượng chất cấm.
Theo ông Chiến, nhiều nông dân bất ngờ khi xuất hiện thông tin về các chất như vàng O hay Cadimi nhưng lại thiếu hướng dẫn cụ thể, không biết nguồn phát sinh từ đâu và cách xử lý như thế nào khiến họ lo lắng.
Không chỉ khâu sản xuất, hoạt động đóng gói cũng tồn tại nhiều bất cập. Một số doanh nghiệp sử dụng mã số không hợp lệ hoặc không tuân thủ quy trình kỹ thuật, làm gia tăng nguy cơ bị phía nhập khẩu cảnh báo hoặc áp dụng biện pháp kiểm soát chặt.

Việc xây dựng và quản lý mã số vùng trồng phải được siết chặt, coi đây là nhiệm vụ bắt buộc của chính quyền địa phương thay vì để người dân tự xoay xở. Ảnh: P.H.
Trước thực trạng này, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ quản lý đến tổ chức sản xuất. Trong đó, việc xây dựng và quản lý mã số vùng trồng phải được siết chặt, coi đây là nhiệm vụ bắt buộc của chính quyền địa phương thay vì để người dân tự xoay xở.
Song song đó, cần thúc đẩy sản xuất theo hướng hữu cơ, tuần hoàn, giảm phát thải, kiểm soát chất lượng ngay từ vườn và xây dựng hệ thống kiểm nghiệm dư lượng tại chỗ.
Theo ông Trần Minh Châu, đại diện Công ty TNHH Giám định chất lượng Vinacontrol, việc ngành nông nghiệp và môi trường cùng thuộc một cơ quan quản lý sẽ tạo thuận lợi trong xây dựng các phòng kiểm nghiệm tại vùng sản xuất. Về mặt kỹ thuật, các đơn vị hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu nhưng vẫn còn vướng mắc về thủ tục pháp lý liên quan đến môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp phép hoạt động.
Nếu có sự chỉ đạo quyết liệt và phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương, việc xây dựng hệ thống kiểm nghiệm tại chỗ là hoàn toàn khả thi, góp phần kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vào.
Bên cạnh đó, phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản sau thu hoạch được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực tiêu thụ trong mùa vụ. Điều này giúp hạn chế tình trạng được mùa rớt giá, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm sầu riêng.

Lên kết chuỗi là yêu cầu bắt buộc nếu muốn phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng. Ảnh: P.H.
Liên kết chuỗi là yêu cầu bắt buộc
Ông Trần Hậu Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng Quốc gia cho biết, các quy định liên quan đang được sửa đổi để phù hợp hơn với thực tiễn. Đồng thời, cơ quan này đang xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, mã số, mã vạch, qua đó nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng.
Thực tiễn cho thấy, những vùng trồng sầu riêng có liên kết chặt chẽ giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp thường đáp ứng tốt hơn yêu cầu xuất khẩu. Tại Đắk Lắk, việc xây dựng chuỗi liên kết đang được đẩy mạnh nhằm kiểm soát chất lượng và ổn định đầu ra.
Theo ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk, liên kết chuỗi là yêu cầu bắt buộc nếu muốn phát triển bền vững. Trong đó, nâng cao năng lực cho nông dân đóng vai trò then chốt bởi đây là mắt xích đầu tiên quyết định chất lượng sản phẩm.
Ở tầm chiến lược, sầu riêng không chỉ là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao mà còn có tiềm năng trở thành ngành hàng quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, với trọng tâm là sản xuất theo tiêu chuẩn, minh bạch và bền vững.

Sầu riêng phát triển khác nhau ở từng vùng sinh thái. Nếu áp dụng một bộ quy chuẩn cứng cho tất cả sẽ khó đạt hiệu quả. Ảnh: P.H.
Trong chuỗi giải pháp dài hạn, Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk đã ký kết hợp tác với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên nhằm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Trọng tâm là xử lý Cadimi và các hóa chất tồn dư trong đất, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật ngành hàng sầu riêng, nghiên cứu giống và phân vùng sinh thái phù hợp.
Theo ông Phan Việt Hà, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, sầu riêng phát triển khác nhau ở từng vùng sinh thái. Nếu áp dụng một bộ quy chuẩn cứng cho tất cả sẽ khó đạt hiệu quả. Do đó, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn chung nhưng có điều chỉnh linh hoạt theo từng tiểu vùng thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán canh tác. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra sản phẩm đồng đều về chất lượng trên phạm vi toàn quốc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Khi vùng trồng được chuẩn hóa, sản xuất chuyển sang hướng xanh và chuỗi liên kết vận hành chặt chẽ, sầu riêng Việt Nam không chỉ giữ vững vị thế ngành hàng tỷ USD mà còn có cơ hội vươn xa hơn, khẳng định thương hiệu trên bản đồ nông sản toàn cầu.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
