Thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đưa về UBND cấp xã, nơi trực tiếp quản lý địa bàn sản xuất. Với trường hợp không đăng ký xuất khẩu đến thị trường yêu cầu mã số, thời hạn giải quyết tối đa là 3 ngày làm việc.
Đây là thay đổi đáng chú ý trong Quyết định số 3072/QĐ-BNNMT vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký ban hành ngày 4/8. Theo quy định, thay vì phải tìm đến cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và nhận kết quả từ chính quyền xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.

Người dân được hướng dẫn thủ tục cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Ảnh: Nguyễn Thành.
Một thủ tục, ba mốc thời gian
Trước đây, mã số vùng trồng thường được hiểu chủ yếu như một điều kiện phục vụ xuất khẩu. Cách hiểu này khiến nhiều người sản xuất cho rằng chỉ những vùng nguyên liệu lớn, liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu mới cần hoặc mới có thể được cấp mã.
Thủ tục mới phân biệt rõ hai nhu cầu. Vùng trồng, cơ sở đóng gói không đăng ký xuất khẩu vào thị trường yêu cầu mã số được giải quyết trong tối đa ba ngày làm việc. Chủ tịch UBND cấp xã cấp mã trên cơ sở hồ sơ kê khai; trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Nếu đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu mã số, thời hạn xử lý là tối đa 10 ngày làm việc. UBND cấp xã phải kiểm tra thông tin kê khai và điều kiện kỹ thuật theo yêu cầu của nước nhập khẩu trước khi thông báo cấp mã.
Mốc cuối là 2 ngày làm việc, áp dụng khi cấp lại mã số do thay đổi tên tổ chức, cá nhân đại diện hoặc thay đổi địa giới hành chính. Cơ quan cấp xã căn cứ hồ sơ đã lưu để xử lý, thay vì yêu cầu chủ mã thực hiện lại toàn bộ quy trình.
Ba mốc thời gian này giúp tách các hồ sơ đơn giản khỏi những trường hợp cần kiểm tra điều kiện xuất khẩu. Một vùng trồng chỉ cần mã để quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc hoặc phục vụ tiêu thụ trong nước không phải chịu quy trình tương tự một vùng chuẩn bị xuất hàng sang thị trường có yêu cầu kiểm dịch riêng.
Hồ sơ cũng được rút về một bộ. Tùy nhu cầu, người dân hoặc doanh nghiệp chỉ nộp đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng, đơn đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói hoặc đơn đề nghị cấp lại. Toàn bộ thủ tục không thu phí, lệ phí.
Quy định này có ý nghĩa trực tiếp với các hộ sản xuất nhỏ. Chi phí của một thủ tục hành chính không chỉ nằm ở lệ phí, mà còn gồm thời gian đi lại, chuẩn bị giấy tờ, bổ sung hồ sơ và chờ xác định cơ quan có thẩm quyền. Khi hồ sơ được chuẩn hóa, đầu mối được đưa về cấp xã và thời hạn được ấn định, các chi phí không chính thức có điều kiện giảm theo.
Việc nộp hồ sơ được thực hiện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tuy nhiên, văn bản vẫn duy trì phương án nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính khi hệ thống gặp sự cố hoặc tổ chức, cá nhân không thể thực hiện trên môi trường mạng. Hồ sơ giấy sau đó phải được cập nhật lên hệ thống khi cổng hoạt động bình thường.
Cấp mã không đồng nghĩa được xuất khẩu
Thẩm quyền được phân cấp mạnh xuống cấp xã, nhưng điều kiện kỹ thuật của vùng trồng và cơ sở đóng gói không bị loại bỏ. Theo phụ lục đính kèm Quyết định số 3072, vùng trồng phải có quy trình sản xuất phù hợp, ghi chép và lưu trữ thông tin về sản xuất, thu hoạch. Cơ sở đóng gói phải có địa điểm, diện tích, nhà xưởng và các khu chức năng phù hợp; có trang thiết bị, quy trình đóng gói, biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại và hồ sơ truy xuất nguồn gốc.
Nếu phục vụ xuất khẩu, vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm của từng nước nhập khẩu.
Với những thị trường cho phép cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tự phê duyệt, mã số có thể được phê duyệt ngay sau quá trình kiểm tra. Nếu nước nhập khẩu trực tiếp xem xét, cấp tỉnh phải tổng hợp danh sách gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau đó Bộ chuyển cho phía nhập khẩu phê duyệt.
Ngay trong mẫu thông báo, văn bản ghi rõ mã số chỉ được sử dụng để xuất khẩu kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này giúp tách 2 khái niệm lâu nay dễ bị nhầm lẫn, là được cấp mã số và được chấp thuận xuất khẩu. Mã số do Việt Nam cấp là công cụ nhận diện, quản lý và truy xuất vùng sản xuất hoặc cơ sở đóng gói. Quyền sử dụng mã để xuất hàng còn phụ thuộc vào cơ chế của từng thị trường.
Một điểm thuận lợi khác là vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói đã có mã nhưng muốn mở thêm thị trường xuất khẩu không phải xin mã mới. Tổ chức, cá nhân chỉ đăng ký bổ sung thị trường và giữ nguyên mã đã được cấp.
Hiệu quả của cơ chế mới sẽ phụ thuộc vào năng lực thực hiện tại cơ sở. Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, nếu cán bộ xã được hướng dẫn đầy đủ, hệ thống dữ liệu vận hành ổn định và tiêu chí kiểm tra được áp dụng thống nhất, người sản xuất có thể tiếp cận mã số nhanh hơn, trong khi yêu cầu truy xuất, kiểm dịch và an toàn thực phẩm vẫn được giữ nguyên.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
