Hoa đẹp, lâu tàn, thời gian khai thác kéo dài hay tỷ lệ đậu hạt cao là những đặc tính được nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hoa, cây cảnh (Viện Nghiên cứu Rau quả) chú trọng khi chọn tạo 7 giống sen mới. Mỗi giống hướng tới nhu cầu sử dụng cụ thể, giúp người trồng có cơ sở lựa chọn sản phẩm phù hợp với thị trường. 7 giống sen này vừa được cấp bằng bảo hộ giống cây trồng.

Mô hình trồng giống sen mới ở Hưng Yên. Ảnh: Mai Đan.
Chọn giống theo mục đích sử dụng
PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cho biết, 7 giống sen mới gồm 5 giống sen cảnh và 2 giống sen lấy hạt. Hướng chọn tạo là kết hợp khả năng thích nghi với đặc tính đáp ứng nhu cầu trồng chậu, trang trí cảnh quan, sản xuất hạt ăn tươi và chế biến.
Theo ông Đông, giống sen SC01 có hoa trắng, cánh kép, đường kính 22 – 26cm; SC02 có hoa đỏ, cánh kép, đường kính 25 – 28cm. Cả hai giống có độ bền hoa cắm 4 – 5 ngày. Giống SC03 có hoa hồng phấn, cánh kép, đường kính 20 – 22cm, độ bền hoa cắm 5 – 6 ngày.
Trong điều kiện miền Bắc, SC01 và SC02 cho hoa từ tháng 4 đến tháng 11, SC03 kéo dài đến tháng 12. Ba giống bắt đầu cho hoa khoảng 30 – 35 ngày sau trồng. Năng suất hoa SC01 đạt 50.000 – 55.000 bông/ha/năm, SC02 đạt 53.000 – 55.000 bông/ha/năm, SC03 đạt 58.000 – 60.000 bông/ha/năm.
PGS.TS Đặng Văn Đông đánh giá SC03 có triển vọng thương mại nổi bật trong 3 giống sen cảnh. Năng suất, độ bền hoa cắm và thời gian cho hoa của giống này tạo thuận lợi cho người mua và cơ sở sản xuất. SC03 phù hợp trồng chậu, ao, hồ, ruộng trũng, đồng thời có khả năng chống chịu bệnh thán thư tốt.
Tuy nhiên, ông lưu ý cần thêm kết quả đánh giá giống SC04, SC05 và phản hồi tiêu thụ thực tế để xác định giống bán tốt nhất trong cả nhóm. SC01 với hoa trắng, SC02 với hoa đỏ và bông lớn cũng có phân khúc riêng. Giống chủ lực vì vậy cần được lựa chọn theo nhu cầu từng nhóm khách hàng.

Hội đồng đánh giá khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của các giống sen mới. Ảnh: Mai Đan.
Với sen lấy hạt, giống SH01 và SH02 đều có tỷ lệ đậu hạt trên 90%. SH01 phù hợp ăn tươi và chế biến, SH02 phù hợp chế biến. Ở miền Bắc, SH01 thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 11, SH02 từ tháng 7 đến tháng 11. Hai giống có khả năng chống chịu bệnh thán thư, thối thân; SH01 còn được ghi nhận chịu lạnh tốt.
Theo ông Đông, các giống sen trên đã được triển khai sản xuất tại Hưng Yên, Đồng Tháp và Huế. Qua theo dõi, năng suất hạt ở mô hình tại Đồng Tháp đạt 4,90 tấn/ha, tại Huế và Hưng Yên đạt 4,57 tấn/ha, cao hơn giống được trồng để so sánh khoảng 15 – 20%.
Năng suất cao hơn tạo điều kiện tăng doanh thu, nhưng lợi nhuận còn phụ thuộc vào giá bán, chi phí giống, chăm sóc, thu hái và sơ chế. Những đặc tính về đậu hạt, chống chịu và thời gian thu hoạch cần được xem xét cùng điều kiện từng vùng thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu năng suất.
Đưa giống mới vào sản xuất cùng kỹ thuật và đầu ra
Để có các giống đáp ứng nhiều yêu cầu, nhóm nghiên cứu phải giải quyết thách thức duy trì đồng thời năng suất, chất lượng và khả năng thích nghi. Lượng hoa, thời gian ra hoa, tỷ lệ đậu hạt đều chịu tác động của mùa vụ và điều kiện canh tác, đòi hỏi phân biệt đặc tính di truyền với biến động do môi trường.

Các giống sen làm cảnh vừa được cấp bằng bảo hộ giống. Ảnh: Lan Chi.
PGS.TS Đặng Văn Đông cho biết nhóm đã đánh giá nguồn gen qua đặc điểm hình thái và chỉ thị phân tử, lựa chọn bố mẹ để lai định hướng, sàng lọc cá thể, sau đó nhân nhanh các dòng ưu tú. Việc đánh giá đa dạng di truyền của 80 mẫu sen hỗ trợ lựa chọn nguồn vật liệu.
Các dòng triển vọng tiếp tục được khảo nghiệm diện hẹp, diện rộng, so sánh với giống bố mẹ hoặc giống trồng phổ biến. Nhóm cũng đánh giá phản ứng của dòng lai sau lây nhiễm bệnh thán thư. Quá trình này giúp kiểm chứng khả năng duy trì đặc điểm giống, làm cơ sở đánh giá tính khác biệt, đồng nhất và ổn định.
Kết quả chọn tạo cần được tiếp nối bằng quá trình chuyển giao phù hợp. Mỗi giống có mục đích sử dụng riêng nên cây giống phải được cung ứng cùng hướng dẫn để người sản xuất khai thác được giá trị. “Ưu tiên trước mắt là bảo đảm nguồn giống đúng giống và có chất lượng, đồng thời triển khai kỹ thuật và liên kết tiêu thụ ngay từ đầu”, PGS.TS Đặng Văn Đông nhấn mạnh.
Ông Đông cho biết Viện Nghiên cứu Rau quả sẽ tiếp tục hoàn thiện quy trình nhân giống, kỹ thuật canh tác, xây dựng mô hình trình diễn với sự phối hợp của các địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp. Trước hết cần củng cố nguồn giống gốc, nhân giống có kiểm soát, quản lý rõ tên giống, nguồn gốc và chất lượng vật liệu cung ứng.

Các giống sen mới có nhiều ưu điểm để lấy hoa, lấy hạt. Ảnh: Mai Đan.
Hướng dẫn trồng, chăm sóc, thu hoạch phải phù hợp với từng giống, từng vùng sinh thái. Mô hình trình diễn cần ghi nhận năng suất, chất lượng, chi phí và kết quả tiêu thụ để người trồng có cơ sở lựa chọn. Sen cảnh cần chú ý điều kiện trồng chậu, khai thác hoa; sen lấy hạt cần chú ý thời vụ, đậu hạt, thu hái và sơ chế.
Liên kết thị trường cũng cần bắt đầu từ nhu cầu sản phẩm. SH01 có thể phát triển theo hướng hạt ăn tươi và chế biến, SH02 gắn với cơ sở chế biến. Nhóm sen cảnh cần kết nối với cơ sở kinh doanh hoa, cây cảnh, đơn vị cảnh quan và điểm du lịch. Quy mô mở rộng sẽ dựa trên năng lực cung ứng giống và khả năng tiêu thụ.
PGS.TS Đặng Văn Đông cho rằng bằng bảo hộ ghi nhận kết quả nghiên cứu, tạo điều kiện khai thác tài sản trí tuệ. Mục tiêu tiếp theo là đưa giống mới thành sản phẩm chất lượng, được thị trường đón nhận và mang lại thu nhập bền vững cho người trồng sen.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
