Ngày 28/8, tại khu vực rừng ngập mặn Hải Đông 2 và Hải Đông 3, phường Móng Cái 3 (Quảng Ninh), Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng tổ chức thả cua biển giống thuộc mô hình nuôi thủy sản trong rừng ngập mặn.
Tham gia mô hình có 12 hộ dân. Tổng cộng 80.000 con cua biển giống, kích cỡ 3-4 cm, được thả tại khu vực rừng ngập mặn. Đây là hướng sản xuất nhằm tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có để phát triển thủy sản, nhưng vẫn đặt yêu cầu bảo vệ rừng và môi trường lên hàng đầu.

Người dân và cơ quan chuyên môn phối hợp thả cua tại khu vực rừng ngập mặn phường Móng Cái 3. Ảnh: Phạm Hà.
Tận dụng giá trị từ rừng
Trước khi đưa xuống khu vực nuôi, cua giống được kiểm tra chất lượng. Các hộ dân tham gia mô hình được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn quy trình vận chuyển, thuần dưỡng và thả giống, nhằm giảm sốc môi trường và giúp cua thích nghi với điều kiện tự nhiên.
Điểm đáng chú ý của mô hình là thay vì cải tạo hoặc tác động lớn đến mặt bằng sản xuất, người dân tận dụng chính hệ sinh thái rừng ngập mặn làm môi trường nuôi. Đây là nơi có nguồn thức ăn tự nhiên phong phú, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài thủy sản sinh trưởng.
Với đặc điểm đó, rừng ngập mặn có thể tạo ra nhiều giá trị kinh tế ngoài chức năng phòng hộ. Hệ thống cây ngập mặn giúp giảm tác động của sóng, gió, triều cường, bảo vệ bờ biển và là nơi cư trú, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài thủy sinh.
Việc đưa cua biển vào nuôi trong khu vực rừng vì thế không đơn thuần là một mô hình sản xuất thủy sản. Nếu được tổ chức phù hợp, đây còn là cách khai thác giá trị kinh tế từ hệ sinh thái mà không tách rời mục tiêu bảo tồn.
Đối với người dân, nguồn thu từ thủy sản có thể trở thành động lực để gắn bó lâu dài với khu vực rừng. Khi sinh kế phụ thuộc vào sự ổn định của hệ sinh thái, việc giữ cây rừng, hạn chế ô nhiễm và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng trở thành lợi ích trực tiếp của chính cộng đồng.

Cua giống có kích cỡ từ 3-4 cm, sức khỏe ổn định trước khi thả ra môi trường nuôi. Ảnh: Phạm Hà.
Sản xuất phải đi cùng giữ rừng
Theo ông Nguyễn Bá Lâm, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh, hiệu quả của mô hình không chỉ được nhìn nhận qua sản lượng cua thu được mà còn ở khả năng hình thành phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện rừng ngập mặn.
Do đó, trong quá trình thực hiện, các hộ dân phải tuân thủ yêu cầu kỹ thuật, không làm ảnh hưởng đến cây ngập mặn và không sử dụng hóa chất, vật tư có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
“Phát triển kinh tế dưới tán rừng phải lấy bảo vệ rừng làm nền tảng. Khi rừng được bảo vệ tốt thì người dân mới có môi trường sản xuất ổn định, lâu dài; đồng thời giá trị kinh tế, sinh thái và môi trường của rừng cũng được phát huy tốt hơn”, ông Lâm cho biết.
Sau khi thả giống, cán bộ kỹ thuật sẽ tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương và các hộ dân kiểm tra, theo dõi quá trình sinh trưởng của cua. Các chỉ tiêu như tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế sẽ được ghi nhận để đánh giá kết quả mô hình.
Đây là những dữ liệu quan trọng để xác định mức độ phù hợp của hình thức nuôi cua trong điều kiện rừng ngập mặn, từ đó có cơ sở hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi xem xét mở rộng.
Cùng với đó, phường Móng Cái 3 sẽ phối hợp tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các quy định về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản trong khu vực.
Việc thả 80.000 con cua giống tại phường Móng Cái 3 cho thấy hướng tiếp cận mới trong khai thác giá trị của rừng ngập mặn: không chỉ bảo vệ rừng như một không gian phòng hộ mà còn từng bước tạo ra sinh kế phù hợp dưới sự kiểm soát về môi trường.
Nếu mô hình đạt kết quả tốt, việc nhân rộng tại những khu vực có điều kiện tương đồng có thể giúp người dân ven biển đa dạng hóa sinh kế, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích rừng.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
