Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng dự thảo là chuyển từ quản lý cơ sở dữ liệu thủy sản phân tán sang quản trị dữ liệu có trách nhiệm, có phân quyền và có khả năng kết nối; dữ liệu thủy sản phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, được cập nhật thường xuyên và gắn trách nhiệm cụ thể với cơ quan, tổ chức tạo lập, quản lý dữ liệu; việc khai thác phải thuận lợi nhưng đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật và đúng thẩm quyền.
Quản lý tài khoản gắn với trách nhiệm người sử dụng
Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là cơ chế quản lý tài khoản, phân quyền truy cập và truy xuất cơ sở dữ liệu chuyên ngành về thủy sản.
Theo dự thảo, tổ chức được cấp tài khoản phải thuộc nhóm có chức năng, nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước về thủy sản, kiểm ngư; thực hiện vận hành kỹ thuật, quản lý dữ liệu; hoặc có nhu cầu truy cập, truy xuất dữ liệu để phục vụ công tác quản lý nhà nước và nhiệm vụ chuyên môn.
Đối tượng được cấp tài khoản khá rộng, bao gồm: Cơ quan nhà nước ở Trung ương và cấp tỉnh có chức năng quản lý nhà nước về thủy sản và kiểm ngư; cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật có liên quan đến thủy sản, kiểm ngư; tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu, đào tạo về thủy sản, kiểm ngư.
Để được cấp tài khoản, tổ chức thuộc diện đề nghị phải gửi văn bản đến Cục Thủy sản và Kiểm ngư. Hồ sơ phải thể hiện rõ mục đích, phạm vi sử dụng, loại tài khoản đề nghị cấp, đồng thời có cam kết sử dụng dữ liệu đúng mục đích, đúng phạm vi và bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Dữ liệu thủy sản được xây dựng bảo đảm các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, cập nhật thường xuyên và gắn trách nhiệm cụ thể. Ảnh: Tú Thành.
Điểm đáng chú ý là dự thảo không chỉ xác định quyền truy cập mà còn gắn quyền khai thác dữ liệu với trách nhiệm cụ thể của người sử dụng. Theo đó, tài khoản và dữ liệu được cấp quyền phải được sử dụng đúng mục đích, đúng phạm vi. Người sử dụng không được tự ý chia sẻ hoặc chuyển giao tài khoản, dữ liệu cho tổ chức, cá nhân khác khi chưa được phép.
Người sử dụng cũng phải tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu, không được làm sai lệch, giả mạo hoặc phá hoại dữ liệu trong cơ sở dữ liệu. Đồng thời, phải bảo đảm an toàn thông tin tài khoản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động truy cập, truy xuất dữ liệu của mình.
Khi phát hiện dữ liệu có sai sót hoặc thiếu chính xác, người sử dụng có trách nhiệm kịp thời thông báo để cơ quan quản lý xem xét, xử lý và cập nhật.
Dự thảo cũng đặt trách nhiệm trực tiếp lên tổ chức được cấp tài khoản. Tổ chức phải phân công cá nhân cụ thể thực hiện việc quản trị, truy cập, truy xuất và quản lý cơ sở dữ liệu trong phạm vi được cấp quyền.
Cùng với cơ chế cấp quyền là quy định về khóa hoặc xóa tài khoản trong những trường hợp cần thiết, như: vi phạm quy định về trách nhiệm sử dụng tài khoản; tổ chức được cấp tài khoản giải thể hoặc chấm dứt hoạt động; cá nhân được giao quản lý tài khoản thay đổi công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu hoặc qua đời.
Cách tiếp cận này hướng tới việc kiểm soát toàn bộ vòng đời của tài khoản, từ cấp quyền, sử dụng, giám sát đến thu hồi. Qua đó, cơ sở dữ liệu không chỉ được bảo vệ về mặt kỹ thuật mà còn gắn trách nhiệm pháp lý với chủ thể khai thác.
Mở rộng, chuẩn hóa dữ liệu nuôi trồng thủy sản
Cùng với quản lý tài khoản, dự thảo dành phạm vi đáng kể để hoàn thiện cơ sở dữ liệu về nuôi trồng thủy sản. Các nhóm thông tin được thiết kế theo hướng bao quát hơn, phản ánh nhiều khâu trong quá trình sản xuất và quản lý.
Đối với giống thủy sản, cơ sở dữ liệu cập nhật thông tin về cơ sở sản xuất, ương dưỡng; đối tượng và sản lượng; điều kiện sản xuất; giống sản xuất trong nước; giống nhập khẩu, xuất khẩu. Các danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh, loài xuất khẩu có điều kiện và loài cấm xuất khẩu cũng được đưa vào hệ thống.
Đối với thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, dữ liệu bao gồm thông tin về cơ sở đủ điều kiện sản xuất, giấy chứng nhận và phạm vi chứng nhận. Các danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và nguyên liệu được phép hoặc cấm sử dụng cũng được cập nhật, tạo cơ sở cho việc kiểm soát vật tư đầu vào trong hoạt động nuôi.

Cơ sở dữ liệu về nuôi trồng thủy sản được quy định cụ thể từ dữ liệu về giống, thức ăn đến dữ liệu quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh. Ảnh: Tú Thành.
Dữ liệu về hoạt động nuôi trồng thủy sản được xây dựng theo hướng phản ánh sát hơn thực tế sản xuất, gồm diện tích, thể tích, sản lượng, đối tượng nuôi, phương thức và hình thức nuôi. Theo đó, đối với các cơ sở nuôi có chứng nhận, cơ sở dữ liệu sẽ bổ sung nhiều trường thông tin quan trọng như chủ cơ sở, mã định danh, tên cơ sở, người đại diện theo pháp luật, mã số thuế, địa chỉ sản xuất và các loại giấy xác nhận, giấy chứng nhận liên quan đến điều kiện nuôi trồng, an toàn thực phẩm, thực hành nuôi tốt hoặc nuôi hữu cơ.
Một nhóm dữ liệu chuyên biệt cũng được thiết lập đối với cơ sở nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm và loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm từ nuôi trồng hoặc từ khai thác từ tự nhiên hoặc từ nhập khẩu. Đây là nhóm thông tin có ý nghĩa trong quản lý, giám sát và kiểm soát hoạt động liên quan đến các loài có yêu cầu quản lý đặc thù.
Không chỉ tập trung vào dữ liệu sản xuất, dự thảo còn bổ sung nhóm dữ liệu về rủi ro trong nuôi trồng thủy sản. Thông tin về thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh được cập nhật theo nhiều tiêu chí như đối tượng, diện tích, tỷ lệ, khối lượng, giá trị và nguyên nhân thiệt hại.
Dữ liệu quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng, chống dịch bệnh cũng được đưa vào hệ thống, từ thông tin về đơn vị quan trắc đến kết quả quan trắc tại các vùng nuôi. Thông tin về vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật thủy sản cũng là một thành phần của cơ sở dữ liệu.
Ngoài ra, hệ thống dự kiến cập nhật danh sách các loài thủy sản sống đã được đánh giá rủi ro; thông tin về giống thủy sản đã khảo nghiệm; thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản đã được khảo nghiệm.
Việc mở rộng, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu sẽ tạo cơ sở quản lý xuyên suốt chuỗi nuôi trồng thủy sản, từ giống, vật tư đầu vào đến môi trường, dịch bệnh và chất lượng sản phẩm; đồng thời hỗ trợ nhận diện rủi ro, cảnh báo sớm, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là nền tảng chuyển từ quản lý bằng hồ sơ, báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu số, góp phần giảm thủ tục, tăng minh bạch và thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
