Từ nhiều thập kỷ qua, ghép tạng được xem là thành tựu lớn của y học hiện đại giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối. Tuy nhiên, nguồn tạng hiến từ người luôn trong tình trạng khan hiếm. Ý tưởng sử dụng nội tạng động vật, đặc biệt là lợn để thay thế (còn gọi là ghép tạng dị loài) đã được theo đuổi từ rất sớm.
Lợn được lựa chọn bởi nhiều lý do, trong đó kích thước và cấu trúc nhiều cơ quan của lợn tương đối tương đồng với người, thời gian sinh trưởng ngắn, dễ nuôi với quy mô lớn.

Bà Giang Thị Thanh Nhàn, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào động vật. Ảnh: Bảo Thắng.
Dù được xem là hướng đi tiềm năng, cấy ghép nội tạng từ lợn gặp rào cản từ yếu tố sinh học. Trong hệ gen của lợn tồn tại các retrovirus nội sinh (PERV). Đây là những “dấu vết virus” đã nằm sẵn trong DNA của lợn hàng triệu năm.
Chúng không phải virus lây nhiễm theo cách thông thường mà là những đoạn vật liệu di truyền đã “cắm rễ” vào hệ gen, có thể được truyền từ đời này sang đời khác. Khi đem nội tạng lợn ghép cho người, các đoạn virus này có khả năng trở thành nguồn rủi ro sinh học.
Tại Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất, nghiên cứu của nhóm Giang Thị Thanh Nhàn thuộc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào động vật (Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam) chỉ ra, điểm mấu chốt nằm ở “số bản sao PERV”, tức số lần những đoạn virus này xuất hiện trong bộ gen của một con lợn.
“Càng nhiều bản sao, nguy cơ càng lớn”, bà Nhàn nói và thông tin thêm lợn bản địa Việt Nam lại có lợi thế tự nhiên khi số bản sao PERV thấp hơn đáng kể so với lợn phương Tây. Từ đây, nhóm đặt ra một hướng đi, nếu chọn những con ít PERV để nhân giống, liệu có thể tạo ra thế hệ lợn “an toàn hơn” theo thời gian?
Kết quả bước đầu cho thấy hy vọng có cơ sở. Đặc điểm nhiều hay ít PERV không hoàn toàn ngẫu nhiên mà có thể di truyền. Nói cách khác, chọn lợn có ít bản sao PERV thì đời sau cũng có xu hướng ít hơn. Nhưng khi bước từ lý thuyết sang thực tế, mọi thứ trở nên phức tạp hơn.

Việt Nam có nhiều giống lợn bản địa như lợn Móng Cái, lợn ỉ, lợn Mán, lợn Mường Khương, lợn Tạp Ná…
Khi theo dõi qua các thế hệ lai tạo, số bản sao PERV không giảm đều như kỳ vọng. Có thế hệ giảm, nhưng cũng có thế hệ tăng trở lại. Đường đi không phải là một đường dốc đi xuống mà là những dao động lên xuống khó kiểm soát. Điều đó cho thấy việc “lọc dần” PERV bằng chọn giống không dễ như chọn màu lông hay trọng lượng trên đàn vật nuôi thông thường.
Nguyên nhân được cho nằm ở bản chất của PERV. Đây không phải một gen đơn lẻ mà là nhiều thành phần khác nhau nằm rải rác trong hệ gen, có cái liên quan chặt chẽ với nhau, có cái lại gần như độc lập. Giảm được một phần không có nghĩa là kéo theo toàn bộ. Vì vậy, dù có thể tác động, việc loại bỏ hoàn toàn bằng cách lai tạo truyền thống chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng.
Ghi nhận kết quả của nhóm, TS Nguyễn Văn Trọng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN-PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đặt vấn đề theo hướng rộng hơn. Ông cho rằng, chọn giống chỉ là một trong các công cụ bên cạnh chỉnh sửa gen và tổ chức hệ thống giống. “Với vật nuôi, đặc biệt là những can thiệp sâu vào bộ gen không thể chỉ dừng ở quy mô phòng thí nghiệm mà cần một chiến lược lớn hơn”, ông bày tỏ.
Quan tâm hơn đến việc phát triển nghiên cứu, TS Nguyễn Hữu Tỉnh, Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam đặt câu hỏi: Nếu sau nhiều thế hệ mà số bản sao PERV vẫn dao động, chưa giảm rõ rệt thì còn phương án nào khác? Liệu có thể áp dụng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 trên quy mô lớn hơn phòng thí nghiệm không?
“Lợn bản địa Việt Nam có một lợi thế tự nhiên đáng kể”, ông Tỉnh nhận xét nhưng cũng nhìn nhận thẳng thắn rằng chọn tạo giống mới dừng ở việc tận dụng lợi thế chứ chưa thể đạt mục tiêu “xóa sạch” các retrovirus nội sinh (PERV).
Retrovirus là một loại virus có vật chất di truyền RNA nhưng khi xâm nhập vào tế bào, nó sẽ chuyển RNA thành DNA và chèn DNA đó vào bộ gen của tế bào chủ. Virus HIV là một trong những retrovirus.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
