Trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung chính sách phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp chuyên nghiệp nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Theo dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, thông qua cơ chế cho thuê, người dân vẫn giữ quyền sử dụng đất lâu dài thay vì phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi không có nhu cầu trực tiếp sản xuất. Ảnh: Tâm Phùng.
Tạo hành lang pháp lý cho thị trường thuê đất
Việc bổ sung chính sách phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp được đánh giá phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, giải pháp này bảo đảm tính thống nhất với Luật Đất đai, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các quy định pháp luật về nông nghiệp, khoa học, công nghệ cùng các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Việc hoàn thiện cơ chế cho thuê đất nông nghiệp được kỳ vọng khắc phục những hạn chế trong các quy định hiện hành về tích tụ, tập trung đất đai, tạo sự đồng bộ với chủ trương phát triển nền nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và phát triển kinh tế nông nghiệp theo chuỗi giá trị.
Chính sách cũng được đánh giá phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam về phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm quyền đầu tư, quyền kinh doanh hợp pháp và phát triển kinh tế xanh. Việc bổ sung cơ chế này không làm phát sinh nghĩa vụ quốc tế mới, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, điểm quan trọng của chính sách là hình thành thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động minh bạch, chuyên nghiệp và ổn định. Qua đó tạo cơ chế thuận lợi để tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở tự nguyện, từng bước giảm tình trạng đất nông nghiệp manh mún, phân tán.

Theo dự thảo Luất Đất đai sửa đổi, hợp tác xã và nhà đầu tư tiếp cận quỹ đất phục vụ sản xuất mà không nhất thiết phải nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Cơ chế này cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư tiếp cận quỹ đất phục vụ sản xuất mà không nhất thiết phải nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đây là hướng đi có thể giảm chi phí đầu tư ban đầu, tạo thuận lợi cho việc hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng nguyên liệu và các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn.
Đáng chú ý, thông qua cơ chế cho thuê, người dân vẫn giữ quyền sử dụng đất lâu dài thay vì phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi không có nhu cầu trực tiếp sản xuất. Đây được xem là một trong những yếu tố góp phần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người có đất, doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ thể đầu tư vào nông nghiệp.
Khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai
Về tác động kinh tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá chính sách sẽ góp phần sử dụng hiệu quả hơn quỹ đất nông nghiệp, hạn chế tình trạng đất bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả.
Khi thị trường cho thuê đất được vận hành minh bạch, các vùng sản xuất tập trung có điều kiện hình thành và mở rộng, qua đó nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
Cùng với đó, Nhà nước có thể giảm áp lực phải ban hành các cơ chế hành chính để thúc đẩy tích tụ đất đai, chuyển dần sang vận hành chủ yếu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Việc chuẩn hóa dữ liệu, hợp đồng và giao dịch về quyền sử dụng đất cũng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất nông nghiệp.

Việc thúc đẩy thị trường cho thuê đất nông nghiệp được kỳ vọng góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hiện đại. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Đối với doanh nghiệp, cơ chế cho thuê tạo điều kiện tiếp cận quỹ đất sản xuất ổn định với chi phí hợp lý mà không phải bỏ nguồn vốn lớn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Từ đó, doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, xây dựng vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
Việc có quỹ đất sản xuất ổn định cũng giúp doanh nghiệp tăng tính chủ động trong đầu tư, thuận lợi hơn trong huy động vốn, tổ chức sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đối với người dân, chính sách mở ra thêm nguồn thu ổn định từ việc cho thuê quyền sử dụng đất đối với những diện tích chưa có nhu cầu trực tiếp sản xuất. Người sử dụng đất vẫn giữ quyền sử dụng đất, qua đó hạn chế tình trạng phải chuyển nhượng đất khi gặp khó khăn về kinh tế.
Bên cạnh nguồn thu từ cho thuê đất, người dân còn có cơ hội tham gia chuỗi liên kết sản xuất với doanh nghiệp, hợp tác xã, được tạo việc làm và nâng cao thu nhập ngay tại địa phương. Như vậy, giá trị quyền sử dụng đất được khai thác hiệu quả hơn nhưng vẫn bảo đảm lợi ích lâu dài của hộ gia đình, cá nhân.
Về mặt xã hội, việc thúc đẩy thị trường cho thuê đất nông nghiệp được kỳ vọng góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hiện đại, quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn, tạo thêm việc làm và hạn chế tình trạng bỏ hoang đất nông nghiệp.
Một thị trường cho thuê đất hoạt động minh bạch cũng có thể góp phần giảm các giao dịch không chính thức, hạn chế tranh chấp, đồng thời hỗ trợ quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Việc phát triển thị trường cho thuê đất vẫn bảo đảm quyền sử dụng đất của người dân. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhận diện một số tác động cần được kiểm soát trong quá trình thực hiện. Trong giai đoạn đầu, có thể phát sinh nhu cầu hoàn thiện hệ thống đăng ký, quản lý hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và cơ sở dữ liệu đất nông nghiệp.
Một số địa phương có thể phải bố trí thêm nguồn lực để tuyên truyền, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm hoạt động cho thuê đất đúng quy định, tránh tình trạng lợi dụng chính sách để đầu cơ hoặc tập trung đất đai trái pháp luật. Doanh nghiệp và người dân cũng cần có thời gian để thích nghi với cơ chế vận hành mới của thị trường.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc bổ sung chính sách phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp chuyên nghiệp là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế về quyền sử dụng đất, tạo hành lang pháp lý minh bạch để thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở tự nguyện, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Chính sách được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn, hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại và bền vững.
Đồng thời, việc phát triển thị trường cho thuê đất vẫn bảo đảm quyền sử dụng đất của người dân, hạn chế tình trạng chuyển nhượng đất ngoài ý muốn, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường quyền sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.
Linh hoạt chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả
Một chính sách đáng chú ý khác trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi là quy định hạn mức đất lúa theo hướng chuyển từ quy định cứng về diện tích tối thiểu sang cơ chế linh hoạt đối với việc chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả.

Chính sách mới theo dự thảo Luật Đất đai sửa đổi mở rộng cơ hội lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế. Ảnh: Minh Đãm.
Chính sách này nhằm thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, chủ trương của Đảng tại Kết luận số 18-KL/TW, đồng thời hoàn thiện quy định về đối tượng, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng vùng, từng địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, việc chuyển sang cơ chế linh hoạt sẽ tạo cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, từ đó có phương án sử dụng phù hợp hơn.
Theo hướng này, Chính phủ có thể quy định cụ thể tiêu chí, điều kiện và trình tự kiểm soát việc chuyển đổi, bảo đảm vừa tạo dư địa cho người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã lựa chọn mô hình sản xuất hiệu quả, vừa giữ được sự kiểm soát cần thiết đối với đất lúa.
Đối với người dân, chính sách mở rộng cơ hội lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích, tăng thu nhập và giảm tình trạng bỏ hoang đất hoặc duy trì sản xuất lúa không hiệu quả kéo dài.
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư, quy định mới tạo điều kiện thuận lợi hơn trong hình thành vùng sản xuất tập trung, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên những diện tích đất lúa kém hiệu quả, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp.
Với Nhà nước, chính sách góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai, thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Việc sử dụng linh hoạt diện tích đất lúa kém hiệu quả cũng có thể giảm chi phí hỗ trợ sản xuất tại những khu vực không còn lợi thế canh tác lúa.

Nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp… đang kỳ vọng lớn vào những đột phá về chính sách từ Luật Đất đai sửa đổi. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý nguy cơ lợi dụng chính sách để chuyển đất lúa sang những mục đích có giá trị thương mại cao nếu công tác quy hoạch, kiểm soát và tổ chức thực hiện không chặt chẽ. Vì vậy, khi sửa đổi Luật cần quy định rõ tiêu chí, điều kiện, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của cơ quan quản lý trong quá trình chuyển đổi.
Cùng với đó, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá đất lúa kém hiệu quả, xây dựng cơ chế giám sát, tăng cường thanh tra, kiểm tra và hoàn thiện cơ sở dữ liệu để kiểm soát biến động đất lúa.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị lựa chọn giải pháp sửa đổi, bổ sung theo hướng này nhằm khắc phục những bất cập của quy định hiện hành, tạo cơ chế linh hoạt nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi, giữ vững mục tiêu an ninh lương thực quốc gia.
Về lâu dài, chính sách mới được kỳ vọng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, hạn chế tình trạng bỏ hoang đất và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
