Tránh “mất bò mới lo làm chuồng”
Trước thực trạng bồi lắng nghiêm trọng tại 3 cảng cá và 4 khu neo đậu tránh trú bão, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã và đang giao Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) rà soát chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý các cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão tàu cá tỉnh (viết tắt là BQL các cảng cá), đánh giá việc đảm bảo đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ nạo vét luồng, lạch và vùng nước trước cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão tàu cá kết hợp tận thu, đấu giá sản phẩm nạo vét.

Việc thực hiện các dự án nạo vét cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Hà Tĩnh đã rất cấp bách. Ảnh: T.Nga.
Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Nội vụ và các cơ quan liên quan nghiên cứu, rà soát, đề xuất bổ sung danh mục sự nghiệp công đối với nhiệm vụ nạo vét luồng, lạch và vùng nước trước cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão tàu cá kết hợp tận thu, đấu giá sản phẩm nạo vét đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Sau khi được cấp thẩm quyền bổ sung danh mục sự nghiệp công, rà soát, lập kế hoạch (phương án) tổ chức thực hiện báo cáo, đề xuất phân bổ dự toán để tổ chức thực hiện; đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quy định, không để thất thoát tài nguyên, tài sản nhà nước…
Trên tinh thần chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, Sở NN-MT, BQL các cảng cá đã vào cuộc nghiên cứu các quy định của pháp luật nhằm đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện tối ưu nhất. Theo đó, có 2 phương án được đưa ra: Thứ nhất, Ban tự tổ chức thực hiện. Ưu điểm phương án này là chủ động điều hành, kiểm soát khối lượng; dễ quản lý sản phẩm nạo vét; tuy nhiên, nhược điểm là năng lực đơn vị đang “3 không” (năng lực, kinh nghiệm, thiết bị).

Với khối lượng bùn cát bồi lắng hàng triệu khối mỗi năm, kinh phí nạo vét sẽ rất tốn kém. Ảnh: T.Nga.
“Số lượng biên chế năm 2026 của BQL các cảng cá chỉ được 13 người (8 viên chức hiện có và 5 viên chức Sở đang thực hiện tuyển dụng); viên chức của đơn vị chủ yếu thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác cảng, tàu thuyền ra vào cảng, khối lượng thủy sản khai thác…; không có cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực nạo vét luồng, lạch và vùng nước trước cảng, khu neo đậu tránh trú bão tàu cá, công trình thủy, luồng lạch hàng hải hoặc tương đương.
Hơn nữa từ khi thành lập đến nay, đơn vị chưa trực tiếp triển khai thực hiện nhiệm vụ nạo vét luồng, lạch và vùng nước nên chưa có kinh nghiệm trong việc tự thực hiện nạo vét theo quy định. Ngoài ra, việc tự tổ chức nạo vét cần yêu cầu lớn về trang thiết bị, phương tiện chuyên dùng phục vụ công tác nạo vét, giám sát thi công, kiểm soát khối lượng và xử lý sản phẩm nạo vét song Ban chưa được đầu tư các trang thiết bị này nên phương án này khó khả thi”, văn bản Sở NN-MT phân tích khó khăn.
Phương án tiếp theo là thuê đơn vị có năng lực thi công nạo vét, thu hồi sản phẩm nạo vét để bù đắp vào chi phí nạo vét. Giải pháp này được nhìn nhận tối ưu hơn khi đảm bảo năng lực, kỹ thuật thi công; giảm rủi ro pháp lý, an toàn; phù hợp quy định về đầu tư xây dựng.
“Trong phương án 2, việc cần bàn là đấu giá thực hiện nạo vét đưa sản phẩm lên bờ hay thực hiện tận thu ngay trên mặt nước. Chúng tôi cho rằng việc đưa lên bờ sau đó đấu giá sẽ tăng chi phí đầu tư ngân sách hơn rất nhiều so với thực hiện ngay trên mặt nước. Về lo ngại thất thoát tài nguyên, với công nghệ giám sát và chế tài chặt chẽ hiện nay của pháp luật, các đơn vị tham gia thực hiện rất khó “qua mặt” lực lượng chức năng”, đại diện một doanh nghiệp từng tham gia thực hiện các dự án xã hội hóa nạo vét vùng nước các cảng cá, đường thủy nội địa phân tích.

Việc lựa chọn giải pháp nạo vét cần tính toán đến yếu tố tiết tiệm ngân sách nhà nước. Ảnh: T.Nga.
Còn lãnh đạo BQL các cảng cá Hà Tĩnh đưa ra thông số so sánh: Chi phí nạo vét đưa sản phẩm lên bờ theo đơn giá nhà nước hiện nay bình quân khoảng 127.000 đồng/m3 trong bán kính bãi đổ 500 – 1.000m; nếu xa hơn, đơn giá có thể lên đến 158.000 đồng/m3 nhưng giá bán tài nguyên chỉ dao động từ 120.000 – 127.000 đồng/m3, vừa đủ bù đắp chi phí nạo vét. Trong khi đó, hút vận chuyển trực tiếp trên mặt nước đơn giá chỉ rơi vào 50.000 đồng/m3. Như vậy, sau khi bán khoáng sản ngân sách nhà nước có thể tiết kiệm trên dưới 70.000 đồng/m3.
Trong khi trên địa bàn tỉnh đang đầu tư và xúc tiến đầu tư rất nhiều dự án cần nguồn vật liệu san lấp lớn, tại sao Hà Tĩnh không nghĩ đến giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên thông qua việc kiểm soát bán nội tỉnh? Cách làm này sẽ tối ưu hóa được lo ngại thất thoát tài nguyên, đồng thời đảm bảo vật liệu phục vụ các dự án trọng điểm trên địa bàn và tiết kiệm ngân sách, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển bền vững.

Tàu cá gặp khó khăn khi ra vào một số cảng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Ảnh: T.Nga.
Cân nhắc ô nhiễm môi trường
Sau yếu tố tiết kiệm ngân sách, tăng hiệu quả đầu tư, việc lựa chọn giải pháp cũng cần tính đến yếu tố giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ NN-MT: “Việc quản lý, sử dụng sản phẩm nạo vét phải đảm bảo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025 của Chính phủ và các quy định về khoáng sản (nếu liên quan)”.
Việc đưa sản phẩm nạo vét lên bờ, cần tính đến yếu tố cát bay, việc che chắn giữa thời tiết khắc nghiệt; thất thoát khoáng sản do mưa cuốn trôi, trộm cắp…
“Phương án nạo vét đưa lên bãi đổ trước mắt thí điểm tại cảng cá Cửa Nhượng, còn tại cảng Cửa Sót sẽ khó có thể thực hiện do không có bãi đổ nào phù hợp vì gần khu dân cư. Và để làm được quy trình đến khi triển khai thực hiện cũng phải mất 3 – 5 năm”, lãnh đạo BQL các cảng cá Hà Tĩnh chia sẻ.
Trong khi nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU đang đến chặng nước rút, cấp bách nhưng thực trạng bồi lắng các cảng cá và khu neo đậu ngày càng nghiêm trọng hơn, thiết nghĩ tỉnh Hà Tĩnh cần mạnh dạn, quyết liệt triển khai phương án đảm bảo các yếu tố như: rút ngắn thời gian thực hiện, tiết kiệm ngân sách, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhưng vẫn đúng quy định pháp luật.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp
